Một việc làm duy ý chí!

Hàng loạt nhà văn hóa truyền thống, làng văn hóa cộng đồng các dân tộc thiểu số... trên cả nước, đặc biệt là Tây Nguyên không phát huy tác dụng, bỏ hoang phế, không chỉ lãng phí tiền tỉ mà còn gây phản cảm. Nguyên nhân, theo ông, là do đâu?

- Một trong những trọng tâm của chương trình phát triển văn hóa Tây Nguyên được ngành văn hóa thực hiện khoảng 20 năm trở lại đây là việc phục hồi và làm mới hàng loạt các ngôi nhà cộng đồng ở các thôn, làng, mà thường được gọi chung là nhà rông hay nhà văn hóa truyền thống. Tôi đã nhiều lần đến các tỉnh Tây Nguyên thì thấy phản ánh của báo Lao Động là hoàn toàn chính xác.

Nhà rông như đình làng, có việc là người ta đến đó trao đổi, thảo luận; Thanh niên chưa vợ ngủ ở nhà rông, đêm đêm học và chơi cồng chiêng, nghe kể khan nhưng họ cũng là lực lượng thường trực bảo vệ thôn làng. Hoặc vào những năm đầu sau giải phóng, khoảng 1977 - 1978, khi chúng tôi đến Kon Tum, thì nhà rông của người Ba Na vẫn còn là nơi đón khách, dù khách riêng của gia đình hay chung của làng. Nhưng bối cảnh kinh tế - xã hội của nhà rông đã thay đổi. Nhu cầu và tập quán sử dụng nhà rông không còn như trước nữa. Phục hồi nhà rông mà không tính đến sự thay đổi sâu sắc này là một việc làm duy ý chí!

Một trong những nguyên nhân - theo phản ánh từ địa phương - là do sai về phương pháp bảo tồn: Nhà truyền thống được xây theo kiểu bêtông hóa, kiên cố hóa, lạc lõng giữa cảnh quan và gây xa lạ cho người dân. Trong khi đó, tại Làng Văn hóa du lịch các dân tộc VN tại Đồng Mô - Hà Nội, nhiều công trình do phải làm bằng tranh, tre, nứa, lá cho đúng nguyên bản lại bị xuống cấp vì vật liệu thiếu bền vững. Có cách nào để dung hòa hai bài toán này không, thưa ông?

- Tôi nghĩ cách làm ở mỗi nơi một khác, nhưng có một điểm chung là sự không thành công ở cả hai nơi chắc không phải chỉ vì vật liệu bêtông hay tranh, tre. Mỗi nơi có những nguyên nhân và giải pháp khác nhau, trước hết phụ thuộc vào mục đích của nó.

Như ở trên đã nói, nhà rông thuộc không gian các thôn làng Tây Nguyên ra đời và tồn tại hàng ngàn năm, nó có chức năng riêng của nó trong một kết cấu xã hội vô cùng chặt chẽ. Một làng không thể thiếu nhà rông. Nhưng nay kết cấu xã hội của các dân tộc Tây Nguyên đã thay đổi căn bản. Thôn làng nào cũng có chi bộ, đoàn thanh niên, các hội phụ lão, phụ nữ, cựu chiến binh… Các cuộc hội họp của họ lại không ở nhà rông mà ở nhà họp thôn, thành ra nhà rông mang tiếng là truyền thống lại trở nên thừa. Nhà nhà đều có tivi, người ta ở nhà xem tivi của mình thích hơn là đến nhà văn hóa. Có nơi, bà con người dân tộc đã hoặc đang chuyển sang ở nhà trệt nhưng người ta vẫn làm nhà rông, hoặc nhà nước thì làm nhà rông nhưng nhà hội họp do dân làm lại là nhà trệt. Không ít nhà rông “văn hóa” lại ở xa cộng đồng, trong khi xưa kia cư dân trong làng ở quây quần xung quanh nhà rông.

Nhà rông bị bỏ hoang là vì nó thực sự không đáp ứng được sự thay đổi rất lớn của kết cấu xã hội và điều kiện kinh tế - xã hội mới. Ta không nên đổ tội cho sự hoang hóa này bằng lý do vì “ sử dụng nguyên liệu mới” làm nhà.

Mới đây tôi có dịp khảo sát làng văn hóa các dân tộc ở Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc. Đó là một không gian rất rộng lớn, ở đó người ta phục dựng hàng chục khuôn viên và ngôi nhà các dân tộc khác nhau ở địa phương này. Các ngôi nhà ở đây được phục dựng theo nguyên liệu truyền thống, đủ loại như gỗ, tranh, tre, nứa, lá hay đất, đá. Tất cả đều bề thế, sạch sẽ, văn minh. Người ta chăm sóc, bảo dưỡng nhà chu đáo.

Tôi cũng muốn lấy một thí dụ khác. 10 ngôi nhà các dân tộc ở Bảo tàng Dân tộc học VN đều làm bằng tranh, tre, nứa, lá nhưng lại rất hấp dẫn khách trong nước và nhất là quốc tế. Các ngôi nhà đó không hề bị đìu hiu. Qua thời gian nhà chắc chắn bị xuống cấp, người ta phải lợp lại hay đảo ngói, thay sàn… để chống xuống cấp. Việc bảo tồn tốt hay không tốt ở các ngôi nhà truyền thống được phục dựng ở bảo tàng hay làng văn hóa chủ yếu do con người và cách quản lý, chứ không phải vì nguyên liệu.

Bảo tồn rất khác với xây dựng mới

Khi xây dựng 10 ngôi nhà nói trên, ông đã cho vời những người thợ người dân tộc về Hà Nội để trực tiếp dựng nhà. Vì sao ông chọn cách đó?

- Bảo tàng Dân tộc học VN là một thiết chế có chức năng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc. Nhiều dân tộc thiểu số hiện nay vẫn đang sống trong các kiến trúc xưa và duy trì các kỹ thuật truyền thống. Vì thế, để bảo tồn các kiến trúc đó không gì tốt hơn là để chính những chủ nhân của nền văn hóa tự làm lấy ngôi nhà của mình ở bảo tàng, hay nói nột cách khác là tạo điều kiện cho họ tự giới thiệu văn hóa của mình một cách thực sự. Điều đó sẽ làm cho ngôi nhà tràn đầy sức sống và hơi thở của cuộc sống, đó cũng chính là điều hấp dẫn du khách. Chưa kể, còn giúp cho chính các chủ thể văn hóa nhận thức một cách rõ ràng hơn về những giá trị văn hóa của mình. Tôi còn nhớ một kỷ niệm sâu sắc, đó là sau 6 tháng hoàn thành nhà rông ở Bảo tàng Dân tộc học VN, một nhóm người Ba Na ở làng Kon Rơbang, thị xã Kon Tum khi trở về đã bàn bạc trong cộng đồng và quyết định sửa lại ngôi nhà rông và thay mái tôn bằng mái cỏ tranh như xưa…

Trong quan sát của một nhà dân tộc học, lại chuyên về công tác bảo tồn bảo tàng, ông có bài học kinh nghiệm nào muốn được trao truyền?

- Làm gì cũng nên nghĩ đến tính mục đích, đạt được mục đích thì sẽ kéo theo những hiệu ứng của nó. Bảo tồn một cách trung thực, đúng đắn là mục tiêu, nếu làm tốt sẽ hấp dẫn du lịch. Nếu chỉ vì mục tiêu du lịch thì sự bảo tồn sẽ không được chú ý đúng mức, các ngôi nhà sẽ thiếu sức sống, từ đó không hấp dẫn người xem.

10 ngôi nhà ở Bảo tàng Dân tộc học VN được làm trong suốt 10 năm, mỗi năm chỉ có thể làm 1 ngôi nhà. Ở Nhật Bản, người ta còn cẩn thận hơn, để chuyển một ngôi nhà từ không gian cộng đồng về bảo tàng họ đã phải nghiên cứu, chuẩn bị rất kỹ, khi hoàn tất mất gần 10 năm trời. Còn nếu 1 năm mà làm tới 15 - 20 ngôi nhà thì thật là kỷ lục nhưng chắc chắn chất lượng sẽ hỏng chỉ sau 2 - 3 năm. Bảo tồn rất khác với xây dựng mới.

Các công trình kiến trúc truyền thống thường được cha ông ta giữ cả trăm năm. Hỏng đâu, sửa đấy. Vấn đề là “gia chủ” có thường xuyên quan tâm, săn sóc chúng hay không. Nay bảo tồn các công trình kiến trúc được đưa về bảo tàng là công việc, nghề nghiệp của những người làm bảo tàng, quản lý di sản. Đó là một công việc khoa học, nghệ thuật quản lý và cả một đạo đức nghề nghiệp mà những người làm di sản đã giải quyết từ lâu.

“Bảo tồn các công trình kiến trúc là công việc, nghề nghiệp của những người làm bảo tàng, quản lý di sản. Đó là một công việc khoa học, nghệ thuật quản lý và cả một đạo đức nghề nghiệp mà những người làm di sản đã giải quyết từ lâu”.