Không hiểu ai đó móc nối mà chiều hôm ấy chúng tôi được đi hát karaoke với nhóm Việt kiều Sài Gòn. Nhiều anh từng là sinh viên và tôi cho rằng các anh không di tản sang Mỹ, Anh, Pháp, Úc mà chọn Dusseldorf là một lựa chọn thông minh. Một anh cầm mic chọn bài “Ai về sông Tương”. Hát rất chuẩn và tình cảm da diết. “Ai có về bên bến sông Tương - Nhắn người duyên dáng tôi thương...  Nàng say tình mới, hồn ta tơi bời - Mộng đẹp từ nay nát tan…”.

Con sông Tương ở Việt Nam tôi và chắc nhiều người nữa không biết ở địa phương nào, nhưng bài hát đã đưa ta về với những dòng sông tuổi thơ thanh bình và những chút tình vương hương sen thơm ngát như thơ Nguyễn Bính, kể về mối tình học trò trường huyện với người bạn gái đội chung một chiếc lá sen che nắng…

Tôi hỏi: “Ở đây có ai biết sông Tương ở đâu không?”. Tất cả lắc đầu. Anh bạn Sài Gòn nói: “Với tôi sông Tương ở Dusseldorf”. Sông Tương là sông của những mối tình bướm bay, thơm hương... dù ở đâu cũng chỉ ở trong lòng mình thôi, và khi ta nghêu ngao “Ai có về…” là y như rằng…

Khi về nước tôi kể chuyện này, có người bảo: “Ở Cẩm Phả, trên đường đi Móng Cái”. Tôi không tin lắm. Đến khi tỉnh Bắc Ninh đầu tư dự án tôn tạo di tích đền thờ Lý Bát Đế ở phủ Từ Sơn, có sự đóng góp của hậu duệ Hoàng tử Lý Long Tường (trong đó có người là Tổng thống Lý Thừa Vãn và con gái là đương kim Tổng thống Hàn Quốc), trong dự án có mục nạo vét sông Tương chảy qua đền thờ. Thì ra sông Tương ở đây. Lạ một điều là từ khi biết rõ như vậy, tôi lại không sang Từ Sơn nghe quan họ và thăm đền Đô nữa. Tôi ước ao được về lại bên dòng sông khác, sông Châu Giang ở Hà Nam, nơi có lần trong chiến tranh tôi đạp xe từ 51 Hàng Bồ về Nam Định rồi đạp tiếp sang làng ông Nam Cao thăm mối tình ngát hương sen của tôi.

Viết đến đây lại ngùi ngùi nhớ người bạn cùng trường, nhà báo tài hoa Nguyễn An Định. Định không bao giờ hát, khi buồn thì uống thôi. Nhưng duy nhất Định hay lẩm bẩm giai điệu “Nàng say tình mới hồn ta tơi bời…”. Nghe Định hát, tôi nhìn anh, anh nhìn tôi. Cả hai thằng bạn già phì cười. Định lôi từ hộc bàn ra 1 chai 2 chén…

Tối hôm ấy tôi ngồi bàn đôi (2 người 1 bàn). Tôi hỏi có tiếp viên nào nói tiếng Nga? Tôi không biết tiếng Đức, tiếng Anh cũng giỏi bằng tiếng Đức. Anh bạn nói tiếng Đức chọn cho tôi một cô gái trẻ, tóc đen. Tôi hỏi: Em ở vùng nào của Liên Xô? Cô trả lời: Em người Bulgaria… Tôi bồi hồi nhớ lại những người bạn Bulgaria đã cùng học với tôi ở Leningrad (Saint Petersburg bây giờ). Những cô gái Bun xinh đẹp và nhỏ nhắn, không nặng hàng tạ như các nàng Nga. Tiếng Nga và tiếng Bun gần giống nhau nên các bạn sang là học ngay, không có năm dự bị học tiếng như chúng tôi. Trong lớp có tôi mau mồm mau miệng nên được chọn đại diện cho Việt Nam phát biểu trong các cuộc mít tinh.

Một lần phát biểu xong có cô bạn Bun tặng hoa và ôm hôn tôi. Lần đầu được đầm hôn cũng ấn tượng lắm. Trường tôi có nhiều sinh viên ngoại quốc. Sôi nổi nhất vẫn là các bạn Cuba. Cô gái ôm hôn tôi (chủ động) học lớp trên, thỉnh thoảng vẫn gặp tôi ở nhà ăn, thư viện. Có lần cô rủ tôi lên phòng cô. Hai đứa uống trà, ăn bánh quy và chuyện trò lung tùng xoèng. Một lúc cô bảo: Tớ cần đi xem phim. Tôi nghĩ là mình nên về nên định đứng dậy. Cô bảo: Chờ tớ thay quần áo đã, cậu phải quay mặt đi đấy. Tôi quay lại và nhìn vào chiếc gương, chiêm ngưỡng toàn bộ màn thay quần áo. Cô thản nhiên: Nào đi! Tôi nghi là cô có hẹn với bạn nên xin phép về phòng. Cô ngạc nhiên và giận dữ bỏ đi. Khi biết chuyện, cả thế giới trong ký túc xá tiếc rẻ và gọi tôi là thằng ngốc. Anh bạn Mông Cổ nói tiếng Nga trọ trẹ: Mày ngu lắm, nó rủ đi xem phim là xong một nửa, sau đó đi ăn, rồi muốn làm gì thì làm! Tôi cũng thấy hơi tiêng tiếc, nhưng lại mừng. May mà mình không, thế là suýt mất cái bàn là và cái quạt tai voi. Hú vía!

Cô bạn Bun ở Dusseldorf kể cho tôi nghe sau khi không còn chính thể Xô Viết, các nước thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế do Liên Xô phụ trách đã sa vào cảnh khốn cùng. Cô nói thẳng ở Bun đói lắm, con gái dạt sang Tây Âu bán bar, làm cave rất nhiều. Chủ nghĩa tư bản không hứa hẹn gì với các nước phụ thuộc. Tôi uống với cô một ly nữa, boa cho cô 50 mác và ra về. Lòng tôi nặng trĩu, nhớ tới Liên Xô, nhớ câu thơ của Thế Lữ: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu”.