5 giờ sáng ngày 6.4.1941, các lực lượng phát xít tấn công Nam Tư. Không quân Đức (Luftwaffe) ném bom Belgrade và các thành phố chính của Nam Tư. 30 sư đoàn của quân đội Nam Tư thiếu cả trang thiết bị cùng quân số, chưa chuẩn bị để ứng phó, đã thua nhanh 52 sư đoàn xâm lược phe Trục gồm Đức, Italia, Hungary, và Bungari.

Ngày 17.4, các đại diện từ nhiều vùng của Nam Tư đã ký một thỏa thuận đình chiến với Đức tại Belgrade, chấp nhận đầu hàng, chấm dứt 11 ngày kháng chiến. Không quân Nam Tư với hơn 100 máy bay, dù đã nỗ lực chiến đấu nhưng vẫn bị tiêu diệt hầu hết. Hơn 300.000 sĩ quan và binh lính Nam Tư bị bắt.

Kẻ thắng chia nhỏ Nam Tư thành 9 khu vực. Nhà nước độc lập Croatia bù nhìn của phát xít được thành lập, do Ustaše - một phong trào thân phát xít, nắm quyền. Quân Đức chiếm Bosna và Hercegovina, một phần của Serbia và Slovenia, trong khi những vùng khác bị Bulgaria, Hungary và Italia chia xẻ.

Tổ chức kháng chiến

Đảng Cộng sản Nam Tư (CPY) do Tito lãnh đạo từ chối đầu hàng. Từ giữa năm 1941, do quân Đức đồn trú tại Nam Tư được điều động đi chiến trường tại Liên Xô, thế chỗ là quân Italia và đồng minh, CPY bắt đầu hoạt động mạnh hơn, thu thập vũ khí và tổ chức thành lập các đơn vị du kích – Partizan, ngày 27.6.1941.

Tito cho đăng trên một tờ báo in bí mật một “Lời kêu gọi chính thức đối với người dân Nam Tư” ngày 4.7.1941 như sau:

"Nhân dân Nam Tư: người Serbia, người Croatia , Sloven, Montenegro, Macedonia và những dân tộc khác! Bây giờ là thời gian sống như những người đàn ông, trong cuộc chiến chống lại những kẻ xâm lược và đánh thuê - những kẻ giết chóc người các dân tộc của chúng ta. Không chùn bước khi đối mặt với bất kỳ kẻ thù khủng bố! Đáp trả sự khủng bố bằng những đòn đánh ác liệt tại các điểm quan trọng nhất của những tên cướp chiếm đóng phát xít. Phá hủy tất cả mọi thứ - tất cả mọi thứ cóthể sử dụng cho quân xâm lược phát xít. Đừng để đường sắt của chúng ta mang theo thiết bị và những thứ khác phục vụ các đoàn phát xít trong cuộc đấu tranh của họ chống lại Liên Xô. Công nhân, nông dân, công dân và thanh niên của Nam Tư... hãy chiến đấu chống lại các đám chiếm đóng phát xít đang tìm cách để thống trị cả thế giới!". Nhiều người Nam Tư đã đáp ứng lời kêu gọi của Tito.Tito đã gửi những người đàn ông tốt nhất của mình cho các vùng – những cán bộ nòng cốt thường được gửi về vùng quê nơi họ sinh ra.

Tới tháng 9.1941, ước tính có khoảng 70.000 người kháng chiến ở Nam Tư. Tito tổ chức partisan như là một đội quân chính quy tại từng địa phương, chỉ huy nhận lệnh trực tiếp từ Tito. Nguyên tắc Tito đặt ra là quân kháng chiến không nên tấn công quân Đức trong tình huống xác định rõ ràng là chúng có số lượng vượt trội. Vì thế, quân partizan đã tiến hành một thứ chiến thuật hit-and-run cổ điển, và mỗi khi quân Đức đã phát động một cuộc tấn công lớn chống lại quân du kích Nam Tư, du kích chỉ đơn giản là rút lui vào các dãy núi của Nam Tư.

Người Đức thường xuyên phản ứng bằng hành động trừng phạt chống lại dân thường địa phương. Tướng Keital đã viết một mệnh lệnh về việc này, có nội dung: "Để tình hình không rối loạn, các biện pháp kiên quyết phải được áp dụng khi có dấu hiệu đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Nó cũng nên được xem xét ở các nước, nơi cuộc sống của người bản địa là không có giá trị. Trả thù cho mạng sống của một người lính Đức, nguyên tắc chung nên có là tử hình 100 người bản địa, 1 lính Đức bị thương thì giết 50 tên. Cách thức thực hiện phải tạo được ấn tượng đáng sợ".

Ở Serbia, trật tự Keital đã được thực hiện đúng nghĩa đen: 6.000 người bị bắn ở Macva, 7.000 ở Kraljevo và 2.300 tại Kragujevac. Những vụ kiểu này đã khiến cho nhiều người tham gia vào quân Partizan. Ở Montenegro, quân Italia chiếm đóng không kịp trở tay trước một cuộc tổng nổi dậy từ lời kêu gọi kháng chiến của Tito. 4.000 lính Italia bị bắt giữ, tước vũ khí để trang bị cho các tù nhân vừa được giải cứu. Tito cũng đã kêu gọi tập trung nỗ lực nổi dậy chống lại các đội quân chiếm đóng. Ông đã ra lệnh đặc biệt rằng các đơn vị kháng trung thành với ông không nên sử dụng quyền lực tại địa phương nó đang ẩn trú, để cưỡng ép tuyên truyền đối với người dân địa phương.

Một nhóm nhỏ các sĩ quan do đại tá Draza Mihajlovi lãnh đạo từ chối đầu hàng và tiếp tục chống lại sự chiếm đóng, thành lập một căn cứ ở phía tây Serbia. Họ tự gọi mình là Chetnik – Quân đội Nam Tư vì Tổ quốc, tuyên bố ủng hộ chính phủ Hoàng gia Nam Tư đang lưu vong tại London (nước Anh). Nhóm này có sĩ quan liên lạc quân sự của Anh đến trợ giúp, nhận được một lượng đáng kể vật tư thiết bị của Anh. Ban đầu Chetniks tung ra những cuộc tấn công đáng chú ý, nhưng nhanh chóng phải giảm bớt quy mô hành động vì lo ngại những cuộc trả đũa vào dân thường Serbia của quân Đức.

Sự khác biệt trong chiến lược và quan điểm chính trị nhanh chóng đưa các lực lượng Chetnik và du kích theo Tito vào tình trạng đối địch Lúc đầu phối hợp với quân du kích do Tito chỉ huy, nhưng sau này Chetniks dần dần ngả theo phe phát xít, nhận viện trợ của Italia, tấn công quân của Tito.

Vào giữa tháng 9.1941, lần đầu tiên Tito gặp Mihailović. Hai bên đều muốn thành lập mặt trận thống nhất chống lại lực lượng chiếm đóng . Tuy nhiên, hai bên có quan điểm khác biệt. Cuộc họp lần thứ 2 trong tháng 9 cũng thất bại. Cả hai thủ lĩnh phong trào kháng chiến, về cơ bản không đồng ý bất kỳ điểm lớn nào.

Dần dần, Cetnik đã nhận sự giúp đỡ tiền bạc và trang bị từ của quân đội Đức và Italia, thậm chí ở nhiều vùng còn phối hợp tác chiến với quân phe Trục tìm diệt du kích. Đến cuối năm 1941, quân partizan chiến đấu với Chetnik cũng như với các lực lượng chiếm đóng. Tuy số ít lãnh đạo cấp cao Chetnik đã theo phía Tito, nhiều kẻ khác coi lực lượng của Tito là mối đe dọa lớn hơn người Đức. Tito đã được xem như là một mối đe dọa lớn nhất, quân Đức rao thưởng 100.000 Reichmarks lấy đầu ông, bất kể sống hay chết.

Mùa thu năm 1941, quân du kích thành lập Cộng hoà Užice tại lãnh thổ giải phóng ở phía tây Serbia. Các cuộc tấn công lớn đầu tiên của quân Đức đối với quân partizan đã diễn ra trong tháng 9.1941 và tiếp tục trong suốt mùa đông năm đó, quân partizan bị đẩy ra khỏi Serbia. Trong chiến dịch này, Tito mất 20 sĩ quan cao cấp và 3.000 tay súng. Tháng 11 năm 1941, quân đội Đức chiếm lại lãnh thổ này, đa số các lực lượng du kích phải rút lui về phía Bosna.

Vào cuối tháng 1.1942, Tito nhận ra rằng ông cần phải cải cách để quân partizan thành một lực lượng chiến đấu hiện đại hơn. Số lượng lớn lính partizan đã quen thuộc với một khu vực địa lý nhỏ nhất định, thường là quê hương họ. Do phải thường xuyên cơ động, rút lui chống bao vây tiêu diệt, Tito đã nhân cơ hội này để đào tạo ra một quân đội chuyên nghiệp cơ động, trong suy nghĩ không gắn chặt với một khu vực bất kỳ nào ở Nam Tư. Đây cũng là tư tưởng chủ yếu để xây dựng chính sách ổn định đất nước, chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong một nước Nam Tư thống nhất, đa dân tộc sau này.

 Một nhóm quân du kích Nam Tư.

Tito bổ nhiệm vào những vị trí cao nhất trong lực lượng mới của mình những người đã có kinh nghiệm trong chiến tranh du kích , đặc biệt là những người đã chiến đấu trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha vài năm trước. Tháng 11.1942 , quân đội của Tito đứng ở mức khoảng 100.000 binh sĩ và được biết đến như Quân đội Giải phóng Nhân dân. Nó đã có trường học riêng của mình để đào tạo cán bộ, phụ nữ và các tổ chức thanh niên và thậm chí là một lực lượng hải quân hoạt động dọc theo bờ biển Adriatic.

Ngày 25.11.1942, Hội đồng Chống Phát xít của Phong trào Giải phóng Quốc gia Nam Tư (Antifašističko Vijeće Narodnog Oslobođenja Jugoslavije) được nhóm họp tại Bihać, Bosnia. Hội đồng tái họp ngày 29.11.1943, tại Jajce, cũng thuộc Bosna và lập ra các căn bản cho việc tổ chức đất nước thời hậu chiến, thành lập một liên bang (ngày nay sau chiến tranh đã được gọi là Ngày Cộng hoà).

Đến cuối năm 1942, partizan đã có 150.000 quân, biên chế thành 2 quân đoàn, 3 sư đoàn, 31 lữ đoàn, và 38 phân đội. Quân chiếm đóng tổ chức nhiều chiến dịch tấn công tiêu diệt lớn, nhưng hầu hết thất bại. Mặc dù du kích giải phóng một số vùng của đất nước, họ thường tránh đụng độ lớn với lực lượng vượt trội.

Kỷ luật trong Quân đội Giải phóng nhân dân Nam Tư là rất nghiêm ngặt. Tất cả các thực phẩm mua tại các khu vực bằng tiền mặt hoặc trong phiếu ghi nợ, được thanh toán và vinh danh vào giai đoạn cuối thời bị chiếm đóng. Hành vi giữa các binh sĩ phải gương mẫu khi họ đã dựa vào một cộng đồng địa phương. Linh cướp bóc bị bắn làm gương. Phái viên quân nhân đồng minh thường trú ở Nam Tư có ấn tượng rất tốt với các tiêu chuẩn kỷ luật của quân PLA (Partisan Liberation Army – Quân du kích giải phóng).

(Còn tiếp)