“Chúng tôi là người từ những nơi xa xứ tới thành phố để làm việc, phụ giúp gia đình, chỉ mong đi làm được thực hiện đúng luật để khi chẳng may có bệnh tật, ốm đau, sinh con thì có khoản tiền chi phí, hay sau này về già có được đồng lương hưu để trang trải cuộc sống. Nhưng vợ tôi đi làm, bị giữ 14 ngày lương, không được đóng BHXH, sau 6 tháng làm việc, nhà trường mới trả cho 100.000 đồng/tháng tiền BHXH, với điều kiện phải làm đủ năm mới được nhận, nếu nghỉ sớm hơn thì không được nhận. Nay vì vợ tôi đang mang thai, công việc nặng nhọc không thực hiện tiếp HĐLĐ được nên xin nghỉ. Vợ tôi có được hưởng những chế độ do Nhà nước quy định không?”.

Cả NLĐ, NSDLĐ và cơ quan nhà nước đều sai

Theo thông tin cung cấp, chị N.T.C (vợ anh T) ký HĐLĐ 1 năm từ 18.7.2016 – 18.7.2017 với Trường mầm non S, mức lương là 3,5 triệu đồng/tháng. Trong điều khoản về BHXH, BHYT của HĐLĐ giữa hai bên ký kết, có ghi: “Sau 6 tháng được phụ cấp thêm 100.000 đồng thay tiền mua bảo hiểm vào số tài khoản với điều kiện làm đúng 1 năm. Nếu nghỉ trước thời gian 1 năm sẽ bị mất số tiền bảo hiểm và 14 ngày thế chân. Bước sang năm thứ 2 sẽ được mua bảo hiểm 200.000 đồng/tháng và được 12 ngày phép… Nghỉ việc phải báo trước 1 tháng với điều kiện phải hết hợp đồng 1 năm”.

Khi xem những thoả thuận trên ghi trong HĐLĐ, chúng tôi không thể không đặt câu hỏi phải chăng vì quá cần việc làm mà NLĐ đã “nhắm mắt” ký bừa? Còn về phía người sử dụng lao động (NSDLĐ), phải chăng đã bất chấp pháp luật mà đưa ra những điều khoản mang tính “kèo trên”, trái pháp luật và bất lợi cho NLĐ vào trong HĐLĐ như thế? Bởi lẽ, pháp luật về BHXH trong nhiều năm qua đều quy định những NLĐ có HĐLĐ từ đủ 3 tháng trở lên thì thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc. Pháp luật về BHYT cũng quy định tương tự. Việc tuyên truyền về những pháp luật này cũng được thực hiện rộng rãi, thường xuyên, liên tục từ nhiều năm qua.

Nhận email của anh T, chúng tôi đã tư vấn, trường hợp của vợ anh, Trường mầm non S. ngoài việc phải tham gia BHXH, BHYT bắt buộc cho chị C thì còn phải tham gia cả BHTN theo quy định tại điều 43 Luật Việc làm. Việc “giam” 14 ngày tiền lương của vợ anh cũng trái pháp luật, vì theo quy định của Bộ luật Lao động thì NLĐ phải được nhận lương đầy đủ, kịp thời. Trong trường hợp vì lý do khó khăn, thì NSDLĐ cũng không được trả lương chậm quá 30 ngày và còn phải trả thêm tiền lãi cho những ngày chậm lương đó. Đồng thời, chúng tôi cũng hẹn anh T đến Văn phòng Tư vấn pháp luật của Báo Lao Động để được tư vấn sâu hơn.

Bẵng đi một thời gian không thấy anh T đến, tôi gọi điện thoại lại hỏi thăm thì được biết, sau khi được tư vấn, anh T có tiếp tục gửi đơn đến một số nơi nêu rõ việc quyền lợi của vợ anh bị xâm hại quyền lợi. Mới đây, Phòng GD&ĐT Q. Gò Vấp, có mời hai bên lên để giải quyết. Theo đúng quy định của pháp luật, thì tranh chấp lao động cá nhân phải do hoà giải viên lao động (thường ở Phòng LĐTB&XH hoặc LĐLĐ của quận, huyện) giải quyết hoặc NLĐ có thể kiện NSDLĐ ra toà để được phán xét. Do đó, việc Phòng GD&ĐT Q.Gò Vấp đứng ra giải quyết tranh chấp lao động là trái quy định. Nhưng việc làm trái quy định của các bên ở đây chưa hết.

Theo anh T. cho biết, tại buổi làm việc này, hai bên đã thoả thuận với nhau, thay vì phải truy đóng BHXH, BHYT, BHTN thì Trường mầm non S. sẽ trả trực tiếp tiền cho chị C trong thời gian làm việc tại trường theo cách tính lấy tỉ lệ 22% BHXH, BHYT, BHTN mà nhà trường lẽ ra phải đóng x tiền lương tháng x 8 tháng làm việc thực tế. Tổng cộng chị C nhận được gần 6 triệu đồng và vợ chồng anh T, chị C cam kết sẽ không khiếu nại Trường mầm non S.

Nhận tiền đền bù vẫn thiệt

Với vợ chồng anh T. chị C. có lẽ đây sẽ là khoản tiền không nhỏ. Nhưng thực tế, khi nhận khoản tiền này, chị C. đã chịu thiệt thòi rất nhiều. Cụ thể, nếu được truy đóng BHXH, BHYT, BHTN 8 tháng thì sắp tới đây, khi sinh con, chị C. sẽ đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản (đóng đủ BHXH 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con) theo quy định tại điều 31 Luật BHXH 2014. Cụ thể, chị C sẽ được hưởng 6 tháng chế độ thai sản, mỗi tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 6 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

Theo quy định hiện hành, tiền lương đóng BHXH đối với NLĐ trong những đơn vị mà tiền lương do NSDLĐ quyết định sẽ không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Nghị định 153/2016/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng ở quận Gò Vấp, TPHCM hiện là 3,75 triệu đồng. Với mức hưởng 3,75 triệu đồng/tháng thì chị C. phải được nhận (6 x 3,75 triệu đồng/tháng) = 22.5 triệu đồng, nhiều gần bằng 4 lần mà số tiền Trường mầm non S đã trả cho chị C. Chưa hết, nếu được truy đóng BHXH, BHYT, BHTN, thì chị C. sẽ được cộng dồn thời gian đã đóng BHTN, BHXH để hưởng các chế độ về thất nghiệp hay hưu trí sau này, đúng như nguyện vọng mà anh T, chồng chị, đã nêu ra trong email nhờ tư vấn pháp luật.

Câu hỏi đặt ra, vậy việc vợ chồng anh T, chị C cam kết không khiếu nại gì với Trường mầm non S có giá trị khi đã nhận tiền của trường? Luật sư Trần Phi Đại, Đoàn Luật sư TPHCM, phân tích: “Pháp luật lao động có đặc thù riêng, nên Nhà nước không công nhận tuyệt đối sự thoả thuận của các bên như dân sự. Và do đó, cam kết của vợ chồng anh T, chị C sẽ không có giá trị.

Cụ thể, trường hợp này, Nhà nước sẽ không công nhận việc Trường mầm non S chi trả trực tiếp tiền đóng BHXH cho chị C. Cách giải quyết đúng nhất là hai bên phải làm thủ tục để truy đóng BHXH, BHYT, BHTN cho chị C. Tất nhiên, khi truy đóng BHXH, BHYT, BHTN thì chị C. cũng phải trích từ tiền lương của mình đã nhận ra một phần để đóng góp vào các quỹ này theo quy định của pháp luật. Nhưng tính chi tiết thì khoản tiền chị C phải đóng góp cũng chưa bằng một nửa số tiền mà Trường mầm non S đã trả cho chị (NSDLĐ đóng vào quỹ BHXH, BHYT, BHTN tổng cộng bắt buộc 22%; NLĐ đóng 10,5%). 

Việc Trường mầm non S quy định kể từ năm thứ hai mới mua BHXH cho chị C với mức 200.000 đồng/tháng là chưa đúng, vì mức đóng BHXH sẽ phụ thuộc vào tiền lương do hai bên thoả thuận, nhưng không được thấp hơn lương tối thiểu vùng. Ngoài ra, việc hai bên thoả thuận từ năm thứ hai trở đi chị C mới được nghỉ phép 12 ngày là cũng không đúng. Bởi khoản 2, điều 114 Bộ luật Lao động quy định NLĐ có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền. Như vậy, với trường hợp chị C, đã làm 8 tháng cho Trường mầm non S thì sẽ được nghỉ ít nhất 8 ngày phép năm. Nếu chưa nghỉ, còn được trả tiền cho những ngày này.