Từ TP Phan Thiết, theo hướng đông bắc, đi 22km là tới Mũi Né, một địa danh nổi tiếng về du lịch biển ở Việt Nam. Một vùng biển nước trong xanh, quanh năm nắng ấm, không bao giờ có bão, và là nơi trú ẩn bình yên của tàu thuyền mỗi khi động biển, có lẽ thế mà từ xưa nó đã mang tên “Mũi Né”, và “đặc sản” của nơi này là những đồi cát mênh mông, nhiều màu sắc, với những đường cong uốn lượn gợi cảm, huyền bí, không chỉ hấp dẫn du khách mà còn gợi cảm hứng cho sáng tạo nghệ thuật của nhiều tay máy ảnh chuyên nghiệp và nghiệp dư.

Mũi Né đặc biệt được khách du lịch nước ngoài để mắt tới và trở thành điểm dừng chân hấp dẫn không thể thiếu nếu đã từng đến Việt Nam kể từ năm 1997, khi ở Đồi Hồng - đồi cát đỏ - là nơi quan sát nhật thực toàn phần, một hiện tượng vũ trụ kỳ thú trên thế giới, lý tưởng nhất, đẹp nhất.

Trên đồi cát. Ảnh: Việt Văn

Làng chài Mũi Né...

Làng nằm ngay trên con đường bờ kè biển chạy ra Đồi Hồng cát đỏ, cách trung tâm Mũi Né 5km. Mỗi bình minh, lúc mặt trời đang từ từ nhô lên trên mặt biển, là khi tàu thuyền cập bờ mang cá lên, làng chài trở thành chợ cá dọc bờ biển, người mua cá, gánh cá, tấp nập lên xuống. Trong ánh nắng lung linh như rắc vàng xuống mặt biển trong xanh, những thuyền cá buông neo, người đội người vác cá lội ào ào vào bờ, trên bờ nhiều bà nhiều chị đón lấy nhanh tay trút cá vào sọt, gánh đi một cách vội vã cho kịp buổi chợ sáng… Tất cả tạo nên hình ảnh sống động giữa thiên nhiên và cuộc sống… rất nhiều du khách dừng lại ngắm nhìn quang cảnh này, không thể không bấm máy ghi lại, như một nét độc đáo của một vùng đất đã từng đến.

Vào hôm tôi đến đây, cuối tháng 2.2011, đúng lúc trên biển Đông có áp thấp nhiệt đới, tàu thuyền không ra khơi, tụ lại làng chài, các ngư dân lên bờ cà phê nhìn biển nghe gió đợi sóng yên, và câu chuyện con cá hôi bùn, con mực có giá ở Mũi Né là một khám phá thú vị. Cứ nghĩ rằng những hải sản trong thực đơn các nhà hàng ở Mũi Né là do làng chài cung cấp, nhưng hỏi ra mới biết không phải vậy.

Anh Phong, 51 tuổi, làm nghề cá cha truyền con nối ở vùng biển này vài đời, có vợ là chị Sa, 45 tuổi, nhà có tàu nhỏ trọng tải 3-5 tấn. Theo anh nói, cá các anh đánh lên chỉ cung cấp cho dân ăn, không có nhà hàng nào lấy, vì tàu nhỏ, đánh bắt gần bờ, hay “giã” lưới cào, nên cá hôi bùn, ăn không ngon, họ chỉ lấy cá đã đặt trước ở các vựa hay chủ tàu lớn, cá đánh bắt xa bờ, con to, sạch, cầu kỳ hơn có nhà hàng đặt mua cá từ Nha Trang vào hay trong miền Tây Nam Bộ đưa ra (có lẽ thế mà nhìn giá cả trong thực đơn các nhà hàng ở Mũi Né, đồ hải sản cá-cua-tôm-ốc… không hề rẻ mà có phần đắt so với nhiều vùng biển du lịch khác).

Khoảng mấy năm trở lại đây, nguồn cá gần bờ ít, nguyên liệu xăng dầu tăng, chi phí một lần ra khơi cao, khó đánh bắt xa bờ, nên thu nhập từ con cá gần như là bù lỗ, thiếu hụt. Bù lại, trời thương, mấy năm nay, dân làng chài Mũi Né lại được mùa mực. Đi câu từ 4 giờ sáng, tới 10 giờ vào bờ là có chừng 8-10kg mực, bán ngay tại làng chài khi lên bờ là cầm chắc tiền lời 200.000 đồng. Ngoài ra, không thành quy luật, nhưng thường xuyên, những “mảng” cá cơm lại “ghé” vùng biển Bình Thuận, người làng chài Mũi Né sống được nhờ vào nó, cứ 2 ngày đánh bắt là có thể thu hàng tấn cá cơm, xem như là khoẻ.

Nhưng cái mùi bùn của cá còn “lây” sang những em bé của làng chài. Phần lớn trong bọn chúng ít đến trường, lớp lơn lớn chừng 12-15 tuổi có thể theo cha ra khơi hay theo phụ việc những tàu đánh cá xa bờ, lớp khác kể từ 4-5 tuổi là theo anh theo chị “trứng gà, trứng vịt” ra đồi cát kiếm tiền bằng cách cho khách du lịch thuê ván trượt cát.

Chợ cá buổi sáng. Ảnh: Việt Văn

Bán hàng rong, cho thuê ván trượt, làm người mẫu...

Đồi cát ở Mũi Né là “đặc sản” trời cho miền biển Phan Thiết. Cát ở nơi đây nổi tiếng không chỉ ở vẻ đẹp của đường nét cuốn hút mắt nhìn, khêu gợi khám phá sự bí ẩn tưởng chừng bất tận, mà còn là nơi cát có nhiều sắc màu nhất, từ đỏ như son, trắng như tuyết, vàng như mật ong, đen như gỗ mun… đến những màu lam, hồng, tím, xám… khoảng vài chục màu, như nghệ nhân tranh cát Ý Lan (TPHCM) thống kê khi tới đây lấy cát về “vẽ” tranh. Đặc biệt, Mũi Né có hai đồi cát nổi tiếng khách trong ngoài nước, Đồi Hồng - cát đỏ, vàng rực rỡ và Bàu Trắng - cát trắng mịn mượt mà…

Đây là nơi thu hút khách du lịch tham quan mỗi khi đến Mũi Né, và kéo theo là các dịch vụ phục vụ khách. Đâu tiên là các tiệm hàng quán ăn uống dọc theo ven triền đồi cát song song với những gánh, “giỏ” hàng rong.

Theo chủ tiệm Cát Hồng, thì dãy nhà hàng quán nước ở Đồi Hồng có từ năm 1997, khi ở đồi cát này quan sát được toàn bộ hiện tượng nhật thực toàn phần. Các tiệm, quán được đấu giá theo diện tích, và cứ 10 năm là đấu giá lại. Như tiệm Cát Hồng, rộng 300m2, năm 2004 đấu giá hết 50 triệu đồng đến năm 2014 là hết hạn, ngoài ra tiền thuế mỗi năm mỗi khác, tăng thêm chứ không giảm, như tiệm này, năm 2010 thuế 7,2 triệu đồng nhưng sang 2011 tăng lên 9,6 triệu đồng, chủ tiệm than: “Tiền thì tăng, giá bán các loại nước chai không tăng, nên phải bươn chải bán hàng ăn, khách cần gì phục vụ theo ý, từ cơm, mì, bún, miến, hủ tíu thuần Việt đến bánh mì, patê, xúc xích kiểu Tây…”.

Ở Đồi Hồng có chừng gần 100 tiệm, quán, và tất cả phải cạnh tranh nhau, song khá lành mạnh, bằng cách trang trí, giữ gìn tiệm quán mình thật sạch sẽ, hiếu khách, có nhiều hình thức nghỉ ngơi như nằm võng hóng gió, ghế bố, ghế dựa, nhạc đồng quê, tivi, giữ xe cho khách…

Còn hàng rong thì phong phú đến bất ngờ, từ một “cửa hàng thời trang” di động bán toàn áo thun in hình VN, áo tắm bikini, quần cụt… đến các “giỏ” hải sản khô gồm: Cá khoai, cá mai, cá thu, mực, sò điệp…, giá vốn cả “giỏ” từ 1-2 triệu đồng. 1 cái áo thun size XL giá rất mềm: 20-25.000 đồng, nếu trả giá có khi chỉ còn 15.000 đồng. Các gói hải sản khô độ chừng 200gr-500gr có giá gần như nhau: 20.000-50.000 đồng/gói. Nhưng mấy loại hàng này bán khá chạy, theo mấy bà chị bán hàng rong thì ngày nào cũng hết hàng, khách đông thì hết sớm, khách vắng thì bán từ sáng tới chiều muộn, lời một ngày chừng 100-200.000 đồng.

Trong số những người bán hàng rong, tôi gặp bà Phạm Thị Thơm, 45 tuổi, bán đậu hũ (tào phớ). Gánh đậu hũ của bà vốn chừng hơn 100.000 đồng/60 chén, bà bán 4000 đồng/chén, tiền lời hơn 100.000 đồng/ngày, bán từ 7 giờ sáng tới 10 giờ trưa. Bà còn thường xuyên làm người mẫu cho các nhiếp ảnh gia và các đoàn quay phim chụp ảnh nước ngoài. Công việc phụ này của bà cũng đã có thâm niên 7 năm, bắt đầu từ một đoàn khách Nhật vào năm 2004 và mới nhất là… tôi. Cách đó ít ngày, bà cũng được mời về TPHCM dự một phiên đấu giá ảnh từ thiện, trong đó ảnh bà làm mẫu có mấy tấm và đã được đấu giá tới 8-9 triệu đồng.

Điều tôi ngạc nhiên nhất là lực lượng các em nhỏ, độ chừng gần 50 em, tuổi từ 4-5 tuổi đến 15 tuổi, cho khách du lịch thuê ván trượt cát. Một tấm ván trượt bằng mica 40cmx100cm giá mua 150.000 đồng, cho khách thuê 10.000 đồng/lần trượt trong vòng 10-15 phút. Những em bé này phần lớn là con của các gia đình làng chài gần đó, có khi cả nhà có bao nhiêu trẻ đều cho ra mưu sinh nơi đồi cát... Ngày đông thì được chừng 5-7 khách thuê, ngày vắng có khi không có khách nào thuê.

Mùa ăn nên làm ra nhất của bọn trẻ là mấy ngày lễ, Tết, và tháng hè tính từ tháng 4-9 hàng năm. Điều khiến tôi ray rứt, khi hỏi chuyện bọn trẻ, phần lớn trong đó không tới trường do nhà quá nghèo, tiền làm ở trên đồi cát chỉ có thể vừa đủ cho việc làm no cái bụng hàng ngày, còn không đủ để làm gì khác.

Thượng đế Việt và thượng đế Tây

Chị Liên (bên trái) - cho thuê ván trượt giúp một du khách trượt cát.

Theo mách bảo của anh xe ôm, quán ăn hải sản ở Bờ Kè được lắm, tôi qua. Quán nằm dọc bờ biển, gió lộng, mát, thoáng, khách đông, hải sản la liệt, đủ cả tôm hùm, cua, ghẹ, ốc, cá… Nhưng không phải thượng đế nào cũng được phục vụ như nhau. Là khách Việt, ăn mặc lúi xùi, đi xe ôm tới nên tôi không được tiếp viên chào mời nhiệt tình và phải đợi khá lâu, đến  khi sẵng giọng mới thấy được dọn món ăn, trong khi đó các nhóm khách tới sau tôi, toàn khách nước ngoài thì được phục vụ tận tình, nhanh đến bất ngờ.

Nhưng điều khó chịu nhất, lại chính từ món ăn, tưởng là Việt mà không phải Việt, món cá nướng không gia vị, không rau, không nước chấm… , khi hỏi thì có câu trả lời: “Tây nó ăn như thế”(!). Nhưng khi tới quán ăn mang tên “Việt”, thì tôi được tiếp đón khá chu đáo, tận tình. Thực đơn không phong phú lắm, nhưng nụ cười cô tiếp viên và sự mến khách của nhà hàng làm khách thấy dịu mát trong cái nắng nóng miền biển.

Điều đặc biệt là ở Mũi Né dịp này có nhiều khách Nga. Ngay thực đơn trong các nhà hàng, ngoài tiếng Việt, tiếng Anh còn có cả tiếng Nga. Hỏi một chủ nhà hàng nằm ở “phố Tây”, gần mấy resort, trên đường Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Thúc Kháng, thì được biết, khách Nga gần như chiếm đại đa số khách ở Mũi Né… Nhưng có một điều thú vị nhất trong chuyến đi này của tôi, là làm quen với một chàng người Mỹ chính gốc, tên Ralph, sinh năm 1977, làm nghề lập trình viên phần mềm.

Ralph cho biết anh làm việc 6 tháng, hoàn thành vài dự án, lấy tiến 6 tháng đi du lịch khắp nơi. Tới VN, không hiểu duyên thế nào, ông chủ quán càphê Maccaj lại tín nhiệm, giao cho Ralph giúp ông quản lý bán hàng , còn ông có việc đi Singapore 2 tuần. Ralph thực sự làm tôi kinh ngạc với vai trò chủ quán, tháo vát, đảm đang, lại tài trong việc pha chế các thức uống rất nhanh và khéo.

Rời Mũi Né, rời cái nắng gắt của biển, vẫn thoáng băn khoăn. Du lịch Mũi Né vẫn chưa có được sự chuyên nghiệp thật sự, vẫn là sự manh mún, và không quy hoạch khoa học. Từ việc xây cất các khu resort, khách sạn, nhà nghỉ bít bùng tầm nhìn ra biển, đến cách thức phục vụ khách chưa phải thượng đế nào cũng như nhau. Từ việc mở các khu du lịch càng ngày càng phát đạt tới việc chăm lo chú ý tương lai của trẻ em vùng này vẫn còn là dấu hỏi.   

Việt Văn