Đắn đo vậy nhưng tôi vẫn đến, vì biết rằng sẽ có nhiều người quen tại bữa nhậu này. Ông Lân “kính” - chủ nhà hàng dẫn tôi xuống tầng hầm, khá đông khách, phần lớn là các “đấng bậc” trong giới văn, thơ, nhạc, họa… Tuy nhiên, Thu Bồn là người quảng giao, nên còn có nhiều bè bạn làm đủ nghề, ở nhiều miền đất nước. Dù vậy, tôi cũng thấy ngại, ngồi nép vào một góc cạnh ông chủ lò gốm Bình Dương và ông bạn người Đức của Thu Bồn. Dẫn chương trình đương nhiên là nhà văn Ngô Thảo, người bạn thân bậc nhất của Thu Bồn, sau khi mời bạn bè ôn lại những kỷ niệm khi ông còn ở cõi trần, là đến chương trình ngâm thơ, rất đáng nhớ.

Qua những người bạn của ông đang ngồi đây, được biết Thu Bồn vào bộ đội từ năm 12 tuổi, làm liên lạc rồi trực tiếp chiến đấu. Trong chiến tranh chống Mỹ, Thu Bồn đã có mặt ở các chiến trường Tây Nguyên, khu V, Quảng Trị, biên giới Tây Nam... lúc làm phóng viên mặt trận, khi làm lính xung kích, lính pháo.

Thật lạ, trận mạc thế mà khi yêu, ông lại rất nhiều phút giây run rẩy: “tôi nhận từ tay em bát nước quá đầy/ bàn tay tôi run rẩy/ làm sao khỏi sánh ra ngoài những giọt nước trong”. Tôi cũng không hiểu nhiều về thơ, nhưng khi một nghệ sĩ ngâm bài “Tạm biệt Huế” bằng giọng Huế khiến kỷ niệm về Huế trong tôi lại ập về. Nhớ đến những tháng ngày mưa dầm dề “thối đất thối trời” nơi đây, nghĩ mà thấy kinh! Cách đây không lâu tôi cũng mê một cô bé xứ Huế. Cô khá xinh, tốt nghiệp sư phạm nhạc họa, ra trường chưa có việc làm nên mở quán cà phê “cóc” trên hè đường. Sáng nào cũng vậy, cô dậy rõ sớm, đun nước pha cà phê tất bật để trong cái làn nhựa rồi phóng xe đến chỗ bán hàng. Được biết tôi sắp chia tay xứ này, cô bảo: “Anh cho em đi cùng, em nấu ăn, giặt quần áo cho anh, rồi em cũng xin đi làm”. Tôi nói ngay: “Không được đâu, lương hẻo lắm, lại phải thuê nhà, sao “cáng” thêm em được!”. Ngay hôm sau, cô bé cắt số điện thoại, tôi viết email cũng không trả lời. Gần đây, dò la được biết cô đã đi dạy một trường tiểu học ở một huyện hẻo lánh.

“Con sông dùng dằng con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu/ Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt / Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya/ Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng/ Anh trở về hoá đá phía bên kia”. Tôi cứ vẩn vơ nghĩ, “sự dùng dằng” của con sông ngỡ là mềm yếu, còn sự “giữ mình” của cô gái Huế khiến khi về Thu Bồn chỉ dám “hôn thầm lặng” rồi “hóa đá” quả là đáng kính trọng. Người ngâm thơ bài này, giọng trầm buồn như những giọt mưa chéo, mưa ngang bay rát mặt. Một bữa nhậu giữa Sài Gòn lại nhớ về Huế, sao cứ đau đớn, day dứt... Giá mà tôi cũng được một lần “hóa đá” như Thu Bồn…