Không chia nhỏ dòng xe có dung tích dưới 2000cm3

Ông Phùng Quốc Hiển nhấn mạnh: Về thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với ô tô dưới 24 chỗ: Một số ý kiến đề nghị không chia thành nhóm nhỏ đối với xe có dung tích xi lanh dưới 2.000 cm3, không phân loại dung tích dưới 1.000 cm3 và đề nghị không giảm thuế quá sâu đối với dòng xe dưới 2.000 cm3. Có ý kiến cho rằng, việc chia nhỏ và giảm thuế suất quá sâu đối với dòng xe có dung tích xi lanh nhỏ sẽ gây khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp sản xuất trong nước và chủ yếu ưu đãi cho xe nhập khẩu. 
Về vấn đề này UBTVQH xin tiếp thu như sau: Theo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 và Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 sẽ tập trung ưu tiên phát triển đối với phân nhóm dòng xe có dung tích xi lanh nhỏ, sử dụng ít nhiên liệu, phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Theo Báo cáo của Chính phủ, qua thống kê sơ bộ 9 tháng đầu năm 2015, số lượng xe có dung tích xi lanh từ 1.000 cm3 trở xuống nhập khẩu bán ra trong nước khá lớn, khoảng 8.650 chiếc, chiếm khoảng 89% số lượng xe có dung tích xi lanh từ 1.000 cm3 trở xuống tiêu thụ trên thị trường. Do đó, nếu quy định như Dự thảo luật dễ dẫn đến việc các doanh nghiệp lợi dụng nhập khẩu dòng xe có dung tích xi lanh nhỏ để bán trong nước mà không chú trọng đầu tư phát triển như mục tiêu của Chiến lược. 
"Do vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đề nghị không chia nhỏ dòng xe có dung tích xi lanh dưới 2.000 cm3 như Dự thảo luật. Đồng thời, điều chỉnh giảm thuế suất thuế TTĐB đối với xe ô tô có dung tích xi lanh dưới 2.000 cm3 mỗi năm giảm xuống 5% so với thuế suất hiện hành và bỏ lộ trình giảm trong năm 2019, điều chỉnh lại lộ trình tăng thuế suất đối với loại xe có dung tích xi lanh từ 2.000 cm3 đến 3.000 cm3" - ông Hiển nói. 
Cụ thể, loại có dung tích xi lanh từ 1.500 cm3 trở xuống: Từ ngày 01/7/2016 đến hết ngày 31/12/2017 áp dụng thuế suất 40% (giảm 5% so với hiện hành), từ ngày 01/01/2018 áp dụng thuế suất 35% (giảm 10% so với hiện hành).
Loại có dung tích xi lanh trên 1.500 cm3 đến 2.000 cm3: Từ ngày 01/01/2018 áp dụng thuế suất 40% (giảm 5% so với hiện hành). Loại có dung tích xi lanh trên 2.500 cm3 đến 3.000 cm3: Từ ngày 01/7/2016 áp dụng thuế suất 55% (tăng 5% so với hiện hành), từ ngày 01/01/2018 áp dụng thuế suất 60% (tăng 10% so với hiện hành).
Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình (Ảnh: Q.H) 
 Chánh án TAND Tối cao Trương Hòa Bình (Ảnh: Q.H)

Không hoàn thuế GTGT đối với các sản phẩm tài nguyên chưa chế biến
Theo dự Luật sẽ không thực hiện hoàn thuế GTGT đối sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác. Sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên cũng không được hoàn thuế GTGT. 
Ông Phùng Quốc Hiển cho rằng, không hoàn thuế GTGT đối với các sản phẩm kể trên khi xuất khẩu là nhằm khuyến khích doanh nghiệp chế biến sâu, tăng hàm lượng GTGT với tài nguyên thiên nhiên và hạn chế tình trạng doanh nghiệp chỉ “móc” tài nguyên, khoáng sản ở dươi đất lên, sau đó tuyển loại sơ qua rồi đem xuất khẩu (chủ yếu là bán cho Trung Quốc). “Thực tế cho thấy, đối với sản phẩm hàng hóa có tổng trị giá tài nguyên khoáng sản cộng với chi phí năng lượng (gồm chi phí điện, xăng, dầu, than) chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì cơ bản vẫn là sản phẩm thô, GTGT trong nước thấp nên chưa thể là sản phẩm được chế biến sâu trong nước. Việc không cho hoàn thuế mà được kết chuyển sang kỳ tiếp theo nhằm thực hiện chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô, khuyến khích chế biến sâu tạo giá trị gia tăng lớn hơn ở trong nước”, ông Hiển nhấn mạnh.   
Tuy nhiên, ĐB Hà Sỹ Đồng (Quảng Trị) cho rằng, muốn khuyến khích doanh nghiệp chế biến sâu trong nước thì phải sử dụng các chính sách khác chứ không nên sử dụng chính sách thuế vì thế cần phải hoàn thuế GTGT cho doanh nghiệp khi xuất khẩu khoáng sản đã qua chế biến hoặc giảm tỷ lệ giá tài nguyên khoáng sản cộng với chi phí năng lượng trong tổng giá trị xuất khẩu xuống mức hợp lý hơn. 
Theo ông Hiển, việc không hoàn thuế GTGT đối với những trường hợp trên nhằm bảo đảm minh bạch về vốn, lành mạnh hoá các hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo đảm lợi ích của các bên liên quan. “Hơn nữa, quy định này cũng nhằm để đồng bộ với với Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư, đồng thời để quản lý chặt chẽ, lành mạnh hoá các hoạt động kinh tế”, ông Hiển giải thích.
3 trường hợp kết án oan người không có tội
Trình bày Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình thừa nhận, trong công tác xét xử các vụ án hình sự còn có 3 trường hợp kết án oan người không có tội; một số Tòa án chưa khắc phục triệt để việc để các vụ án quá thời hạn luật định do lỗi chủ quan; tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chưa đạt cao như mong muốn; việc tổng kết kinh nghiệm xét xử và đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật mặc dù đã có tiến bộ, nhưng ở một số lĩnh vực còn chậm. Công tác quản lý, điều hành hoạt động ở một số đơn vị chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả, khoa học; vẫn còn xảy ra các trường hợp cán bộ, công chức Tòa án vi phạm phẩm chất đạo đức, kỷ luật công vụ và vi phạm pháp luật. Cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện làm việc của một số Tòa án còn khó khăn, thiếu thốn, đặc biệt là các Tòa án nhân dân cấp huyện; chế độ chính sách đối với Thẩm phán và cán bộ, công chức Toà án còn nhiều bất cập. X.H
Miễn trách nhiệm hình sự với bị can phạm tội tham nhũng còn nhiều
Cùng ngày, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình đã trình bày Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2011-2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thẩm tra báo cáo trên, Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp Nguyễn Văn Hiện cho rằng, vẫn còn một số hạn chế chưa được khắc phục như: số trường hợp Viện kiểm sát phát hiện, hủy bỏ quyết định tạm giữ chưa tương xứng với số trường hợp bắt, tạm giữ hình sự phải chuyển xử lý hành chính hoặc trả tự do. Còn nhiều trường hợp Viện kiểm sát phê chuẩn bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam sau đó phải chuyển xử lý hành chính, trả tự do vì không có sự việc phạm tội. “Tiến độ và chất lượng truy tố nhiều vụ án kinh tế, chức vụ và tham nhũng còn hạn chế, thời gian giải quyết kéo dài do bị tòa án trả hồ sơ nhiều lần. Số trường hợp đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự đối với các bị can phạm tội về kinh tế, chức vụ, tham nhũng còn nhiều so với các loại tội phạm khác”-ông Hiện bày tỏ. X.H