Hạn chế về cách đặt tên là không cần thiết
Báo cáo tiếp thu, chỉnh lý nêu rõ về quyền đối với họ, tên (Điều 26 dự thảo Bộ luật), vấn đề đặt tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có), có nhiều ý kiến đề nghị bổ sung nội dung tên của công dân Việt Nam và người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ và họ, tên của một người không được vượt quá số lượng chữ cái nhất định, “Họ, tên của một người không được vượt quá hai mươi lăm chữ cái”.

Về vấn đề này, Ủy ban pháp luật không tán thành quy định tại đoạn thứ 2 khoản 3 Điều 26 “Tên của công dân Việt Nam và người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ. Họ, tên của một người không được vượt quá hai mươi lăm chữ cái” vì cho rằng, quy định hạn chế về cách đặt tên, độ dài của tên là không cần thiết. Hơn nữa, việc đặt tên bằng số, bằng một ký tự hay quá dài cũng không ảnh hưởng tới quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo làm rõ những nội dung này để bảo đảm thể chế hóa quy định của Hiến pháp về tôn trọng quyền con người, quyền công dân.

Sẽ có hệ lụy từ việc chuyển đổi giới tính
Về việc chuyển đổi giới tính (khoản 2 Điều 36 dự thảo Bộ luật), báo cáo của Chính phủ về kết quả lấy ý kiến Nhân dân và tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ luật trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nêu hai loại ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, với vị trí, vai trò là luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật dân sự thì Bộ luật dân sự cần có quy định về việc chuyển đổi giới tính để làm cơ sở cho luật khác quy định cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển đổi giới tính khi cần thiết. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, trong điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và để tránh những hệ lụy tiêu cực về nhiều mặt đối với chính bản thân người chuyển đổi giới tính và xã hội thì Nhà nước không nên thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính.
Chính phủ có 2 phương án: “Phương án 1: Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của Luật. Phương án 2: Nhà nước không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính. Chính phủ đã nhất trí theo Phương án 1 nêu trên.
Về vấn đề này, báo cáo thẩm tra của UB Tư pháp Quốc hội nêu rõ: “Về khoản 2 Điều 36 quy định về việc chuyển đổi giới tính theo hướng: “Nhà nước không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính. Trường hợp cá nhân đã chuyển đổi giới tính thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi hộ tịch và có các quyền nhân thân khác theo quy định tại khoản 1 Điều này”. Ủy ban pháp luật xin báo cáo như sau: việc thừa nhận hay không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính không chỉ liên quan đến quyền nhân thân của một cá nhân, mà kèm theo đó là rất nhiều vấn đề xã hội phát sinh, chẳng hạn như hành lang pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp y học để chuyển đổi giới tính, vấn đề công nhận hôn nhân đồng giới, sự phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống, phong tục, tập quán của Việt Nam...”.
Báo cáo thẩm tra cho rằng, vấn đề này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng. Dự thảo Bộ luật một mặt quy định Nhà nước không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính, nhưng mặt khác lại quy định quyền của người đã chuyển đổi giới tính được yêu cầu cơ quan nhà nước thay đổi hộ tịch và có các quyền nhân thân khác có liên quan. Như vậy, nếu việc chuyển đổi giới tính đã được thực hiện thì các hệ quả phát sinh lại được pháp luật tôn trọng và bảo hộ.
Ủy ban pháp luật cho rằng đây là vấn đề hết sức nhạy cảm trong xã hội, nếu đã không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính thì cũng không cho phép được thay đổi hộ tịch và các quyền nhân thân khác theo giới tính mới. Vì vậy, đề nghị nghiên cứu, giải trình rõ quy định này.

Clip Quốc hội biểu quyết chương trình xây dựng luật, pháp lệnh sáng 9.6.