Những vật dụng của hai cha con “người rừng”. Nguồn: Internet

Lịch sử “người rừng” cũng thật hiếm trên thế giới. Hơn thế nó còn xuất hiện trong nhiều loại hình nghệ thuật như văn học, điện ảnh, nổi tiếng nhất là series phim “Tarzan” và chú bé - người sói Mowgli (“Sách Rừng xanh” của nhà văn Anh - Rudyard Kipling).

Ở nước ta, đã từng có cả tộc người Rục (thuộc nhóm dân tộc Chứt) ở Quảng Bình bao năm sống như “người rừng” thời tiền sử. Nhưng chuyện hai cha con “người rừng” ở Quảng Ngãi có hoàn cảnh đặc biệt hơn và gây cho chúng ta nhiều nỗi xúc động vì họ là nạn nhân của chiến tranh, và đã có thời gian ở rừng sâu cô độc gần 40 năm trời - một thời gian dài đằng đẵng…

Có thể nhận thấy, báo chí và những phương tiện truyền thông đã cung cấp thông tin nhanh nhạy, nhưng không thống nhất và rất nhiều thông tin chi tiết khác nhau làm người ta không biết nên tin vào đâu. Thí dụ tên người con là Hồ Văn Lang hay Hồ Văn Loan?

Có báo viết người cha Hồ Văn Thanh (82 tuổi) hiểu tiếng Cor nhưng không (còn) nói được, còn người con trai Hồ Văn Lang (41 tuổi) không hiểu, không nói được tiếng dân tộc mình, thì làm sao có thể nói ra nỗi nhớ rừng, nhớ rẫy, muốn về nơi ở cũ? Báo thì nói đến tận bây giờ hai cha con vẫn ngơ ngẩn xa lạ với cộng đồng, có báo lại bảo, họ đã dần dần hòa nhập với cộng đồng…

2. Một vài ngày nay, có nhiều người bày tỏ lo lắng về số phận hai cha con “người rừng”. Nhiều ý kiến - đặc biệt là từ các trang mạng xã hội - yêu cầu tuân theo ý nguyện của cha con ông Thanh, đưa họ trở lại rừng và có cách tiếp cận, giúp đỡ họ dần dần…

Cũng theo báo chí thì đã có lúc ông Thanh về làng sống nhưng chỉ được một thời gian ngắn, và có báo còn “giật gân” hơn khi cung cấp tin rằng, năm 2004, ông Thanh còn đến rẫy của người dân lấy trộm quả dưa về làm giống, bị công an huyện bắt mấy ngày, sau đó được thả, ông sợ quá, càng đi vào rừng sâu hơn…

Nhưng có lẽ những thông tin này là đúng, khi người con trai út Hồ Văn Tri cùng người cháu họ ông Thanh và một vài người dân xác nhận rằng, họ từng đến rất nhiều lần các nơi trú trong rừng của cha con ông Thanh, nghĩa là dân làng không phải không có những liên lạc.

Nhưng có những ý kiến “cực đoan” dựa trên lập luận về tự do, về quyền con người. Thậm chí có người còn hỏi, đây là sự “Giải cứu” hay “Bắt cóc”? Sự thật, theo Lao Động ngày 13.8, thì không ai “bắt cóc”, ép buộc cha con ông Thanh, mà do con cháu biết ông Thanh ốm nặng nên đã nhờ chính quyền xã đưa về. Việc công bố những bức ảnh người con bị còng tay, người cha trong bệnh viện bị buộc dây là điều không nên dù với mục đích nào đi nữa.

3. Những ý kiến muốn đưa cha con ông Thanh trở lại rừng không phải không có lý, nhất là về mặt khoa học, bởi có một số “người rừng” trên thế giới khi trở về cuộc sống loài người không thể thích nghi, hòa nhập được, thậm chí có những người bị chết khi còn rất trẻ.

Trả lời phỏng vấn của báo điện tử Infonet ngày 12.8, PGS.TS Trương Thị Khánh Hà - Chủ nhiệm khoa Tâm lý học, Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia cho rằng: “Nên để cho họ được sống trong môi trường cũ, vì họ đã khá quen thuộc với môi trường này, tuy nhiên cần tạo cơ hội cho họ bằng cách giúp họ có một nhà chòi ở trên cây tốt hơn, kiên cố hơn, tạo điều kiện cho họ có cuộc sống đỡ đần vất vả và thỉnh thoảng người dân đến thăm hỏi, chăm sóc.

Ngoài ra, cần có biện pháp bảo vệ họ một cách nhất định, cấp cho họ thêm quần áo, đồ ăn, có bác sĩ đến thăm khám và các nhà khoa học cũng có thể đến vừa giao lưu, vừa nghiên cứu nữa, vì đây cũng là một hiện tượng rất hiếm gặp”.

Rồi bà cho rằng: “Ông bố có thể thích nghi với môi trường mới... Người con rất khó khăn để thích nghi. Trường hợp nếu đưa người con trở về thì phải có những chuyên gia đặc biệt để thường xuyên quan sát, theo dõi chăm sóc…”.

Còn TS Nguyễn Văn Long - Phó giám độc Trung tâm thông tin, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cho rằng: “Để hai cha con “người rừng” thích nghi được với cuộc sống hiện đại của cộng đồng, theo tôi nên chuyển chỗ ở của họ từ rừng sâu ra ở khu rừng gần khu dân cư hơn và làm cho họ một cái chòi chắc chắn, để họ vẫn được lao động sản xuất như trước đây, rồi người thân cũng như cộng đồng thường xuyên thăm hỏi, chuyện trò, hỗ trợ lương thực, thuốc men, đài radio để họ được thích nghi dần”.

Liệu ý tưởng làm “một cái nhà chòi trên cây tốt hơn” và ở vị trí “từ rừng sâu ra khu rừng gần” có khả thi hay không? Cha con “người rừng” đã quen lối sống du canh du cư, từ khi họ vào rừng đã rất nhiều lần chuyển chỗ ở, nay lại “ở rừng gần” xa nương rẫy thì họ sinh hoạt thế nào? Cái ý tưởng hỗ trợ cho họ lương thực, thuốc men, đài radio… cũng có thể là vô ích bởi họ đã quen sống tự cung - tự cấp theo cách của họ.

Chính vì thế người dân trong làng, kể cả con cháu nhiều lần đưa cho họ những vật dụng, quần áo… họ đều không dùng. Ngay cả việc “đưa bác sĩ đến thăm khám, các nhà khoa học đến giao lưu, nghiên cứu” có thể cũng là điều không  tưởng vì cha con “người rừng” này không muốn tiếp xúc với người lạ, ngay cả người thân (anh Hồ Văn Tri, con ruột) cũng chỉ một năm mới có thể đến một lần…

Hơn nữa, bây giờ ông Hồ Văn Thanh đã quá già và sức khỏe yếu, ai đám chắc là ông còn có thể ngày ngày leo trèo lên cái nhà chòi trên cây được nữa? Và khi ông vì ốm đau sẽ ra sao? Rồi khi ông mất, một mình người con trai sẽ sống thế nào? Đành rằng sức khỏe của anh Lang là trời cho và đã vượt được qua sự chọn lọc của tự nhiên, nhưng khi đến tuổi cao hơn thì mọi điều không thể nói trước được.

Vẫn biết rằng, để vận động những con người đang sống tự nhiên, hoang dã như thế là rất khó khăn, đòi hỏi thời gian và sự kiên nhẫn, nhưng đó là việc nên làm bởi họ là những con người, cộng đồng phải có lương tâm và trách nhiệm để đưa họ trở về hòa nhập xã hội, cho họ một cuộc sống ổn định hơn, văn minh hơn. Nếu như thiếu quyết tâm, rằng chắc chắn tộc người Rục nay vẫn còn sống trong hang đá, cởi trần đóng khố bằng vỏ cây, sống một cuộc sống gần như người tiền sử. Việc đưa họ hòa nhập xã hội, định canh định cư kể từ khi phát hiện (năm 1959) đến nay vẫn chưa thể coi là đã xong hoàn toàn, mới thấy công việc này khó đến nhường nào.

Nhưng đó là cả một nhóm đông người, biết đâu việc đưa cha con ông Hồ Văn Thanh có phần dễ dàng, thuận lợi hơn. Riêng tôi cũng hoài nghi với suy luận của PGS.TS Trương Thị Khánh Hà. Theo thiển ý của tôi, ông Thanh đã già yếu lại bị sang chấn tâm lý nặng hồi chiến tranh nhiều khả năng khó hội nhập, ngược lại người con trai có thể hòa nhập dễ dàng hơn?

4. Tuy nhiên mọi chuyện vẫn chỉ là bàn luận, phỏng đoán, nhưng chúng ta nên ủng hộ quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân địa phương của tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt là những người thân của cha con ông Hồ Văn Thanh. Có điều những sự quan tâm, giúp đỡ nên thận trọng, tránh ồn ào, phô trương.

“Căn bệnh” giúp người nhưng cứ phải hô hoán thật to và “kiên quyết” dúi phong bì, bảng chữ vào tay người ta để quay phim chụp ảnh là điều không nên, nhất là với trường hợp của hai cha con ông Thanh - họ đâu biết tiền là cái gì? Có lẽ cũng không nên biến cái làng nhỏ của người Cor ấy là địa điểm “tham quan, du lịch” cho những người tò mò, hiếu kỳ. Các cơ quan ngôn luận và thông tin đại chúng cần “kín đáo” hơn và có lẽ tôn trọng tự do của họ, không cố bám theo để quay phim, chụp ảnh, khai thác quá mức “sự kiện” này.

Thêm một điều nữa, nếu như mọi việc tốt đẹp theo dự kiến, thì Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam hoặc Bảo tàng Quảng Ngãi nên sớm thỏa thuận, trao đổi với cha con ông Thanh để lưu giữ những vật dụng chế tác của họ, bởi đó là những tư liệu rất quý.