Theo đánh giá của UBND TP, hạ tầng giao thông vận tải hiện chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội của Thủ đô trong những năm qua, lưu lượng phương tiện ngày một tăng và hiện tượng ùn tắc giao thông thường xuyên xảy ra.

Trên địa bàn toàn thành phố có khoảng 16.132km đường bộ, chỉ tiêu bình quân đạt thấp, khoảng 0,003km/người. Số lượng nút giao khác mức chỉ khoảng 10% trên tổng số khoảng hơn 1000 nút; Tình trạng quá tải xuất hiện trên nhiều tuyến phố và đặc biệt khu vực các nút giao.

Chưa có đường sắt đô thị; đường sắt quốc gia đi qua đô thị lõi và giao cắt cùng mức với các đường nội đô gây mất an toàn, ùn tắc giao thông và ảnh hưởng đến môi trường đô thị.

Các cảng đường thủy chưa được đầu tư nâng cấp, mở rộng và luồng chưa được cải tạo, chỉnh trị để hoạt động ổn định; Về hàng không chủ yếu dựa vào nhà ga T1 của sân bay quốc tế Nội Bài, hiện đang trong tình trạng quá tải;

Về giao thông tĩnh: Thiếu nghiêm trọng các bãi đỗ xe tại khu vực đô thị lõi. Quỹ đất dành cho giao thông tĩnh cho khu vực này hiện chỉ đạt khoảng 0,35% tổng diện tích đất xây dựng đô thị, bằng khoảng 10% nhu cầu.

Có sự mất cân đối về cơ cấu thị phần vận tải. Đối với vận tải hàng hóa chủ yếu dựa vào đường bộ (chiếm tới hơn 80% tổng lượng hàng nội bộ và liên tỉnh). Vận tải hành khách công cộng chủ yếu là xe buýt thông thường với thị phần chiếm khoảng 10% (tính với khu vực nội đô). Việc đi lại bằng xe cá nhân chiếm tỷ trọng cao (xe máy trung bình chiếm 67%, xe con khoảng 2,2%).

Tổ chức quản lý điều hành vận tải còn nhiều bất cập, hệ thống tín hiệu giao thông chưa được đầu tư hiện đại để hình thành mạng kết nối, chưa có trung tâm điều hành giao thông, ý thức của người tham gia giao thông chưa cao góp phần gây ùn tắc giao thông.

Theo quy hoạch đến 2030 tầm nhìn 2050, phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ với các quy hoạch khác, đặc biệt là quy hoạch xây dựng đô thị để đảm bảo tỷ lệ đất giao thông khu vực đô thị trung tâm chiếm 20% - 26% đất xây dựng đô thị; đô thị vệ tinh chiếm 18% - 23% đất xây dựng đô thị; các thị trấn chiếm 16% - 20%. Tập trung ưu tiên cho phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng để đảm bảo thị phần khu vực đô thị trung tâm năm 2020 chiếm 35% tổng lượng hành khách, năm 2030 khoảng 50-55%, sau 2030 đạt 60-65%; các đô thị vệ tinh năm 2020 chiếm 20%; năm 2030 khoảng 40%, sau 2030 đạt tối đa 50%.

Xây dựng 9 tuyến đường cao tốc 6 – 8 làn xe song hành với các quốc lộ có lưu lượng lớn. Đường Đại lộ Thăng Long và Pháp Vân – Cầu Giẽ được quy hoạch là cao tốc đô thị; Cải tạo, mở rộng 9 tuyến quốc lộ hướng tâm hiện tại lên thành đường có 4 đến 6 làn xe cơ giới; Xây dựng mới đường Vành đai 4; Xây dựng đường Vành đai 5.

Xây dựng 04 trục đường nối đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh với tổng chiều dài 85km; quy mô mặt cắt ngang mỗi đường có chiều rộng 40 tới 60m cho tối thiểu 6 làn xe cơ giới; Xây dựng 27 trục đường tỉnh, đường liên huyện có tính chất quan trọng với tổng chiều dài 554km theo quy mô đường cấp III và cấp II đồng bằng trên cơ sở các đường tỉnh theo Quy hoạch 1881 và bổ sung các trục mới gồm: Đường trục phát triển kinh tế Bắc – Nam, Đường trục phát triển kinh tế phía Nam, Trục Đỗ Xá - Quan Sơn, Đường trục Miếu Môn – Hương Sơn,...

Cải tạo và xây dựng mới 150 nút giao khác mức giữa các đường cao tốc, đường trục chính đô thị với các đường ngang với số lượng nút cho mỗi khu vực gồm: Đô thị trung tâm 102 nút; đô thị vệ tinh Sơn Tây 03 nút; đô thị vệ tinh Hòa Lạc 07 nút; đô thị vệ tinh Xuân Mai 04 nút; đô thị vệ tinh Phú Xuyên 06 nút; đô thị vệ tinh Sóc Sơn 01 nút; khu vực khác 27 nút. Đối với một số nút giao trong nội đô lưu lượng giao thông lớn ưu tiên xây dựng các cầu vượt cho tải trọng nhẹ để giải quyết cấp bách tình trạng ùn tắc giao thông.

Xây dựng 16 công trình đường bộ vượt sông Hồng, 8 cầu qua sông Đuống, 3 cầu qua sông Đà, các cầu trên các trục đường cắt qua sông Đáy.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Sở GTVT cho biết, giai đoạn trước năm 2020, xe buýt vẫn chiếm một tỉ trọng lớn trong thị phần vận tải của hệ thống giao thông công cộng Hà Nội. Cùng với quy hoạch phát triển hệ thống vận tải công cộng, thành phố sẽ có lộ trình để giảm dần các loại phương tiện cá nhân.

Tổng diện tích đất dành cho giao thông trên toàn thành phố là 33.237 ha. Trong đó:  Tổng quỹ đất giành cho giao thông trên toàn thành phố thuộc phạm vi nghiên cứu của quy hoạch (tính đến đường liên khu vực) là 23.452,19 ha (đường bộ 19.127,45 ha, đường sắt 2.029,34 ha, xe buýt nhanh 169,40 ha, các cảng sông 395,0 ha). Diện tích đất cho các đường cấp khu vực và cấp nội bộ 9.785 ha sẽ được nghiên cứu trong quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết.