Cần quy hoạch lại

Tại cuộc tọa đàm, ông Đỗ Thanh Bái - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp (DN) hóa chất Việt Nam - cho rằng: “Thảm hoạ xảy ra ở Quảng Ninh vừa rồi vượt quá sự tính toán và dự phòng rất nhiều, trong đó hoạt động khai thác mỏ tác động lên mặt địa mạo là một nguyên nhân. Dù khai thác hầm lò hay lộ thiên, bắt buộc phải bốc xúc một lượng đất đá rất nhiều. Để có 1 tấn than nguyên khai, ngành than phải bốc 10 - 12 tấn đất đá, nên phá hoại địa mạo và cảnh quan, gây xung đột rất lớn cho các mục tiêu phát triển khác như rừng đầu nguồn, du lịch, tác động đến những quy hoạch khác như thuỷ sản, đô thị, hạ tầng giao thông…”.

“Khi khai thác than sẽ tạo ra chất thải rắn. Khi chứa chất rắn, về nguyên tắc phải tính toán làm sao đổ bãi thải phải trồng được cây, phải đắp kè để đảm bảo vững chãi. Thế nhưng do rất nhiều yếu tố hoặc là đổ cao quá mức cần thiết tạo ra hiểm họa thường trực, ví dụ vụ làm sụp nhà của gia đình 9 người ở Mông Dương, tôi đã đến và thấy bãi thải này ở trạng thái nguy hiểm nhưng nếu chính quyền địa phương và Cty thấy được ngay từ ban đầu và có biện pháp gia cố, đảm bảo đủ cao trình có khả năng hậu quả thấp hơn.”.

Đồng tình với quan điểm này, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, ông Trịnh Đình Dũng đánh giá: “Tôi nhất trí có lẽ phải xem lại vấn đề quy hoạch. Theo tôi, ta nhìn thấy nguy cơ nhưng chưa thấy bài toán giải. Tại sao vùng núi cao mà nước không thoát được, đó là vấn đề quy hoạch hay công nghệ? Nếu những người làm công tác phát triển sẵn sàng ngồi với những người làm công tác môi trường, nhà khoa học và cộng đồng dân cư sẽ nhận diện được những nguy cơ có thể xảy ra, xác định các kịch bản xảy ra ứng với những sự cố nhỏ, lớn, thảm hoạ để có thể chuẩn bị ứng phó tốt hơn”.

Ngành than đang gánh chịu hậu quả nặng nề do mưa lũ gây ra. Ảnh: T.L 


Khai thác than chưa gắn với bảo vệ môi trường

Đại diện liên minh phát triển bền vững Việt Nam Đào Trọng Tứ cho ý kiến: “Tôi cho rằng phát hiện ra trữ lượng than càng lớn càng đáng lo. Hằng năm khai thác 30 - 40 triệu tấn, nó có “ma lực” rất ghê gớm. Hiện nay, sản lượng điện do thuỷ điện vẫn là chính (trên 40%), nhiệt điện hơn 30%, còn lại một số lượng điện khác. Thế nhưng trong vòng 5 năm tới tôi không dám chắc lấy gì ra để phát điện khi thuỷ điện đã khai thác 85% rồi, điện hạt nhân vẫn là chiến lược, nên phải nói rằng điện liên quan ghê gớm đến than. Vấn đề ở đây là quan điểm tăng tỉ trọng điện than là đi ngược với xu thế đi ngược lại với tăng trưởng xanh, nhưng vẫn phải khai thác, chỉ có cách làm giảm tác động tiêu cực”.

Các đại biểu cũng đánh giá với Quảng Ninh, việc khai thác than và bảo vệ môi trường càng đặt ra cấp thiết, phường Khánh Hòa (TP.Hạ Long) nằm ngay dưới một bãi thải cao 300 mét không có che chắn trở thành một núi nhân tạo tiềm ẩn nguy cơ trượt xuống. Vịnh Hạ Long hứng 3/4 chu vi của khu vực khai thác than này. “Chúng ta đã thiếu quy hoạch dài hạn, tầm nhìn và đánh giá đúng mức trong khi việc phục hồi môi trường làm như trò chơi, chỉ nói chứ không làm. Tài liệu hội thảo về bền vững môi trường trong khai thác than có thể dày hàng mét, nhưng chẳng có việc cụ thể hoá, thể chế hoá nào cho hiệu quả” - ông Đào Trọng Hưng của Viện Hàn lâm Khoa học VN nói.