Trong buổi sáng xuân lạnh giá, cảnh nhà hiu hắt càng khiến cái lạnh nhân lên bội phần. Nhưng cũng chính tại nơi đây, một câu chuyện tình được dệt nên như cổ tích giữa đời thường. Lòng xót thương đối với người chồng bệnh tật, sự khổ đau của người mẹ sinh ra những đứa con tật nguyền… đã khiến bà Bích quyết định “cưới” vợ lẽ cho chồng để “cho trọn nghĩa và mong còn trông thấy tương lai”.

Khổ đau cả một cuộc đời

Bà Bích năm nay đã 69 tuổi. Ở cái tuổi này, lẽ ra người ta đã có thể nghỉ ngơi, vui vầy bên con cháu nhưng với bà, những nỗi khổ vẫn còn vẹn nguyên. Đưa tay cầm di ảnh của người chồng quá cố, bà Bích không nén nổi sự xúc động khi nhớ lại những năm tháng trước đây. Năm 1969, bà kết hôn cùng ông Nguyễn Văn Thư - bộ đội lái xe đường dây 559 - nhân một lần ông về quê nghỉ phép. “Khi đó, tôi mới 21 tuổi, cũng chưa biết gì cả. Thấy gia đình anh Thư đi lại rồi hỏi cưới thì tôi đồng ý thôi”, bà Bích cười hiền. Lấy nhau chưa được một tuần, người vợ trẻ phải ngậm ngùi tiễn chồng ra trận. Từ đó, bà Bích chỉ biết vùi mình vào công việc hậu phương thời chiến để nuôi gia đình.

Năm 1971, sau đợt nghỉ phép của ông Thư, bà sinh người con gái đầu lòng. Hai năm sau, bà sinh tiếp người con gái thứ hai. Nhưng đau đớn thay, chỉ hơn một năm sau, người con này qua đời. Hòa bình lập lại, ông Thư giải ngũ trở về quê mang theo thương tích của chiến tranh. Ông bà tiếp tục sinh người con trai thứ ba, rồi hai năm sau, người con gái thứ tư ra đời. Nhưng tất cả những người con của bà đều bị dị tật bẩm sinh. “Các cháu không đi được, chỉ có bò thôi, ăn cũng không biết ăn, uống không biết uống, đái ỉa cũng không tự làm được…”, bà Bích đưa tay quệt ngang giọt nước mắt chảy dài kể. “Ba năm trước, đứa con gái út của tôi mất ở tuổi 35, sau hai năm ở trại Bà Thá. Thế là 4 đứa giờ chỉ còn lại thằng Thu. Nó năm nay đã 40 tuổi rồi mà không biết cái gì hết, lúc nào cũng phải có người ở nhà trông”, bà Bích nghẹn ngào.

Nhớ về những năm tháng khốn khổ khi gần như phải một mình lo toan công việc nhà chồng, bà Bích chỉ còn biết thở dài. Thời bao cấp, nhà nào cũng đói, nhưng với nhà bà Bích, cái đói còn ghê gớm hơn vì ông Thư những năm sau chiến tranh mất sức lao động và thường xuyên đau ốm. “Ông ấy thường đau đầu, đau bụng rồi sốt rét liên miên, thuốc thang bao nhiêu cũng không lại”. Đã vậy, 3 người con ngây ngây dại dại không thể tự chăm sóc mình lại ngốn gần hết thời gian lao động của bà. Những đồ đạc có giá trị trong nhà cứ lần lượt đội nón ra đi, những món nợ chất chồng cứ lên cao mãi, đè xuống đôi vai gầy của người mẹ trẻ. Cảnh nhà cơ hàn cùng cực khiến bà Bích như phát điên, phát dại. Chuyện thiếu đói ba tháng, năm tháng, sắn ngô thay cơm, rau khoai trừ bữa, vay đằng trước trả đằng sau… đã trở nên hết sức quen thuộc, đến nỗi bà Bích tưởng đó là cái tất yếu của cuộc đời mình…

Nhưng những khốn khổ về vật chất cũng không đau đớn bằng về tinh thần. Hồi đó, sinh con ra đều bị dị tật bà Bích thường bị mẹ chồng đay nghiến, chì chiết. Hàng xóm láng giềng nhiều người không thông cảm mà còn bàn tán, dị nghị, lời ra tiếng vào khiến bà Bích rơi vào khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Mặc dù vậy, bà vẫn cố cắn răng chịu đựng vì thương chồng, thương con, vì hy vọng ở một tương lai khác.

Mãi về sau này, khi ông Thư đi khám sức khỏe, các bác sĩ mới cho biết, ông bị nhiễm chất độc màu da cam. Điều này khiến bà Bích vừa trút được cảm giác tội lỗi nhưng cũng khiến bà thêm đau đớn vì bà biết, niềm hi vọng về tương lai trở nên đen tối hơn.

Không cam chịu số phận, bà Bích đã có một quyết định táo bạo - tìm “vợ lẽ” cho chồng. Và cũng từ đó, một câu chuyện mới bắt đầu và làm thay đổi cuộc đời bà.

Chị em chung một tấm lòng

Bà Bích tâm sự: “Hồi đó, tôi cứ mong muốn là cưới cho chồng một người vợ để trọn nghĩa. Hướng tôi chọn là những người sống có tình có nghĩa, sống với nhau bằng cái tâm của mình chứ không ham chọn người cưới về để đi làm. Hoàn cảnh gia đình mình như vậy, có kén cá chọn canh cũng không được”.

Khi bà Bích đặt vấn đề “cưới” vợ lẽ, ông Thư đã phản đối quyết liệt. Bởi trong thâm tâm, ông luôn dành tình thương cho người vợ của mình. Và hơn nữa, ông không muốn ai phải chịu khổ vì mình. Nhưng cuối cùng, nhờ sự thuyết phục của bà Bích, sự động viên của anh em họ hàng, ông Thư cũng đồng ý trong im lặng.

Được lời như cởi tấm lòng, bà Bích bắt đầu tìm người. Đa số những người bà tìm đến đều dè dặt trước lời đề nghị của bà, phần vì họ e ngại trước hoàn cảnh gia đình, phần vì họ lo sợ cho con cháu mình về sau. Phải đến khi gặp được bà Dương Thị Duệ, bà Bích mới tìm thấy sự đồng cảm nơi người phụ nữ này.

Bà Duệ là con gái đầu trong một gia đình có 7 người con. Khi gặp bà Bích, bà Duệ đang làm kĩ thuật ở kho hợp tác. Cảm thương số phận của bà Bích và ông Thư, nhưng cũng phải mất nhiều lần thuyết phục, đi lại giữa hai bên gia đình, bà Duệ mới gật đầu ưng thuận. “Tôi cũng vì thương cho cái số chẳng may của anh Thư và cái phận long đong của chị Bích mà nhận lời. Nhưng chú ạ, tôi cũng nghĩ cho bản thân tôi nữa, “trâu quá sá, mạ quá thì” mình cũng đâu còn son trẻ. Thôi thì đã là số phận thì cũng chẳng nên tránh né làm gì”, bà Duệ trải lòng.

Đám cưới được tổ chức rất đơn sơ nhưng nồng ấm tình người. Từ đó, bà Duệ cùng bà Bích chung tay lo lắng công việc gia đình. Nhờ trời, bà Duệ sinh được ba người con, hai gái một trai. May mắn thay, những người con của bà Duệ đều khỏe mạnh bình thường, không bị di chứng chất độc màu da cam. Niềm vui của bà Duệ cũng là niềm an ủi lớn lao của bà Bích khi những người con lấy vợ, lấy chồng, sinh những đứa cháu khỏe mạnh.

Anh Thu - con trai bà Bích. 
Khó khăn vẫn còn trước mắt

Giờ trong ngôi nhà bé nhỏ ở thôn Thông Đạt, 2 bà đã có 2 đứa cháu trai, cháu lớn 3 tuổi, cháu nhỏ mới sinh được 1 tháng. Thế nhưng, niềm hạnh phúc cũng không át đi được những lo toan bộn bề trong cuộc sống. “Đứa đầu đã gần 30 mà có tìm được việc đâu. Cứ loanh quanh ở nhà, ai thuê gì làm nấy. Còn đứa gái út, học trường cao đẳng y tế ra cũng không biết đi đâu về đâu. Nhà nghèo lấy tiền đâu mà xin việc”, bà Duệ chia sẻ.

Chỉ tay vào ngôi nhà cấp 4, bà Bích cho biết, ngôi nhà được xây từ năm 1976, gần 40 năm rồi mà không có tiền tu sửa lại, dui mè nhiều chỗ đã mục, đầu tường mối xông làm rạn nứt, những bậc cửa mõm mòm, trong nhà chẳng có đồ đạc gì giá trị, khắp nơi vang lên tiếng ọp ẹp của những đồ vật đã đến kì hư hỏng…

Nhắc lại những khó khăn, bà Bích cho biết, “giờ, tuy có đỡ hơn trước, nhưng tôi vẫn còn nợ nhiều lắm”. Bà Bích ngưng lại một lát rồi kể tiếp: “Rõ khổ, năm đấy có hai nhà báo về viết bài hỏi ông nhà tôi xem có cần hỗ trợ gì không. Ông ấy lại xua tay nói tôi còn khỏe, còn làm ăn được, lúc nào mà hai vợ chồng tôi nằm liệt một chỗ thì mới phiền Nhà nước phải nuôi”. Vì thế, trong suốt thời gian ông Thư sống khó khăn sau giải ngũ đến những khi vật lộn với bệnh tật do chất độc phát tác, lẫn sau khi ông qua đời (năm 2005), gia đình bà Bích cũng chẳng nhận được bất cứ một đồng trợ cấp nào. “Cũng ngặt một nỗi là lúc ông nhà nằm xuống, đầu óc tôi lẩn thẩn thế nào mà đem “hóa” hết đồ dùng của ông ấy, kể cả giấy tờ. Đến khi có chế độ, người ta hỏi đến giấy tờ thì mình chịu cứng”, bà Bích thở dài.

Nhưng có lẽ nỗi lo lớn nhất của bà Bích bây giờ là người con trai “ngây dại”. “Tội nó lắm chú ơi, bây giờ mẹ còn thì mẹ cho ăn uống, nâng đỡ, không biết mai đây mẹ trăm tuổi thì nó ra sao nữa…”, bà Bích không kìm được nước mắt, “không biết mai đây…”, nỗi lo ấy của người mẹ già như xát muối vào lòng người…