“Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TTTT) đã tính toán để giảm thiểu ở mức thấp nhất thiệt hại của người dân, doanh nghiệp khi chuyển mã vùng điện thoại cố định. Song trước sự bùng nổ thông tin di động khiến kho số viễn thông đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, quy hoạch kho số tại thời điểm này là hết sức cấp bách”. Ông Trần Mạnh Tuấn nói với Lao Động chiều 9.1. Trước những phản ứng trái chiều từ dư luận những ngày qua (đã phản ánh trên Báo Lao Động) về những thiệt hại, bất cập có thể xảy ra khi bộ này đồng loạt chuyển mã vùng điện thoại cố định tại 63 tỉnh, thành phố.

Thưa ông, khi ban hành Thông tư 22 về quy hoạch kho số viễn thông, trong đó có việc đồng loạt chuyển đổi mã vùng ĐTCĐ tại 63 tỉnh, thành, Bộ TTTT có tính đến những khó khăn của người dân, DN hay chưa và vì sao phải đổi mã vùng ĐTCĐ?

Thông tư 22 do Bộ TTTT ban hành trong bối cảnh việc quy hoạch kho số viễn thông tại thời điểm này là hết sức cấp bách. Điều này xuất phát từ thực tế xuất phát điểm của ngành viễn thông là mạng viễn thông cố định, khi đó chưa có mạng di động. Quy hoạch kho số trước đây, đa số đầu mã đều được sử dụng làm đầu mã vùng. Số đầu mã vùng cho mạng cố định là 7 (2x, 3x, 4x, 5x, 6x, 7x, 8x), trong khi mã cho mạng di động là 2 (1xx, 9x).

Với sự phát triển ngày càng tăng của các thuê bao điện thoại di động thì đang tồn tại một nghịch lý là số lượng thuê bao điện thoại di động tăng (hiện đã hơn 120 triệu thuê bao), trong khi kho số dành cho mạng di động lại cạn kiệt. Hiện số lượng điện thoại cố định khoảng 7 triệu thuê bao và xu hướng ngày càng giảm, vì vậy việc quy hoạch lại kho số viễn thông để sử dụng hiệu quả, nhu cầu lớn để dành kho số lớn và nhu cầu nhỏ phải thu hẹp lại là điều cần thiết.

Thêm vào đó, do quá trình chia tách các tỉnh, thành, một số tỉnh được chia tách có đầu mã vùng không như ban đầu. Chẳng hạn, hai thành phố lớn HN và TPHCM có đầu mã 1 chữ số (Hà Nội là 4; TPHCM là 8), nhưng một số tỉnh khác có độ dài 2 chữ số. Khi chia tách như Nam Định trước đây mã vùng là 35, sau khi tách thành Nam Định và Hà Nam thì mã vùng một tỉnh là 350, 1 tỉnh là 351. Vì vậy mã vùng trở nên không đồng nhất, một số tỉnh mã vùng sẽ là 3 chữ số.

Bên cạnh đó, quá trình sử dụng cũng cho thấy một số mã, số được quy hoạch trước đây như mã dịch vụ nhắn tin, Internet tốc độ thấp qua modem... đến nay không còn sử dụng phải loại bỏ ra khỏi quy hoạch... Để giải quyết vấn đề này, khoản 2, Điều 47, Luật Viễn thông quy định Bộ TT&TT là cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng quy hoạch lại kho số để sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí tài nguyên kho số.

Vậy giải quyết vấn đề quy hoạch lại kho số, mở rộng kho số di động, đều có tính toán đến tác động đến người dân. Hiện có 2 cách: Một là - kéo dài số thuê bao, và hai là - phải bổ sung thêm đầu mã cho thuê bao. Quy hoạch mà Bộ TTTT đưa ra về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu này bằng việc bổ sung đầu mã cho điện thoại di động, thu gọn đầu mã điện thoại cố định. Điều này phù hợp với thông lệ trên thế giới là cố định độ dài số thuê bao (10 số), không tốn kém thời gian cho người dân, doanh nghiệp phải quay thêm dãy số dài, không cần thiết.

Thông tin về việc đổi mã vùng ĐTCĐ đã gây phản ứng từ phía người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là thời điểm thông tư có hiệu lực là từ 1.3.2015, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thói quen sử dụng của người dân, và gây thêm chi phí lớn cho doanh nghiệp (DN). Vậy làm thế nào để giảm thiểu tác động này?

Những ngày qua, báo chí đã nêu nhiều về việc này. Tuy nhiên, Thông tư 22 của Bộ TTTT trước khi ban hành cũng đã đăng tải trên website của Bộ từ ngày 25.12.2013 đến ngày 24.2.1014 theo đúng quy định (lấy ý kiến người dân, DN trong vòng 60 ngày). Tuy nhiên, hết thời gian lấy ý kiến, sự phản hồi của người dân trên thực tế không nhiều.

Theo quy định, thời điểm 1.3.2015 là thời điểm thông tư có hiệu lực, chứ không phải là thời điểm áp dụng việc chuyển đổi mã vùng. Thực hiện thông tư này, Cục Viễn thông được Bộ TT&TT giao nhiệm vụ phối hợp với các DN viễn thông lên quy hoạch, lộ trình áp dụng việc chuyển mã vùng ĐTCĐ,  dư kiến lộ trình thực hiện từ đến năm 2020 sẽ phải hoàn thành quy hoạch kho số trong đó có việc chuyển mã vùng và mã mạng. Lộ trình được quy định cụ thể trong Luật Viễn thông là khi có sự thay đổi về số thuê bao phải thực hiện từng bước.

Việc chuyển mã vùng đang dự kiến sẽ thực hiện theo 3 giai đoạn nhằm giảm thiểu việc gián đoạn thông tin liên lạc của người dân. Giai đoạn 1, sẽ phải thông báo cho người dân trên các phương tiện đại chúng trước ngày áp dụng 60 ngày. Việc thực hiện cũng sẽ chuyển đổi song song, vẫn áp dụng cả mã vùng cũ và mã vùng mới trong khoảng thời gian từ 3-6 tháng. Nếu có phản hồi tích cực thì mới cắt hẳn mã vùng cũ để chỉ duy trì mã mới.

Sau khi thực hiện xong việc chuyển đổi mã vùng sẽ có kế hoạch chuyển đổi dần số thuê bao di động dầu 1xx về các đầu 3x, 4x, 5x, 7x,8x, các số đầu 9x giữ nguyên. Kế hoạch sơ bộ này đã được xem xét và đánh giá là giải pháp tối ưu nhất để thực hiện Quy hoạch và  không gây xáo trộn lớn thói quen sử dụng của người dân.

Như vậy việc áp dụng mã vùng mới chỉ còn là vấn đề thời gian, tuy nhiên, theo phản ánh của nhiều người dân thì liệu bằng các biện pháp kỹ thuật, Cục Viễn thông có thể đưa ra cách thay đổi mã vùng thuận tiện hơn không để dễ thuộc, dễ nhớ, vì thực tế là có một số tỉnh thành, mã vùng mới thay đổi hoàn toàn sao với cũ khiến họ khó thực hiện?

Việc tính toán đổi mã vùng ĐTCĐ cũng được tính toán đến mục tiêu lâu dài để quy hoạch tồn tại được khoảng 10-12 năm sau vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu thực tế, không phải tiếp tục thay đổi. Từ 7 đầu mã, mã vùng ĐTCĐ hiện quy định chỉ còn sử dụng đầu 2x, vì vậy, sẽ chỉ có một số tỉnh vẫn giữ được số cũ, còn đa số các tỉnh sẽ phải thay đổi. Việc thay đổi cũng cố gắng quy luật, từ Bắc vào nam, dễ thuộc dễ nhớ. Trong tương lai gần, khi các vùng cước từ 63 vùng cước hiện nay (theo quy định mỗi tỉnh một vùng cước) sẽ thu hẹp lại chỉ còn từ 8-10 vùng cước thì việc thay đổi mã vùng như trên vẫn không bị ảnh hưởng.

 Xin cảm ơn ông.

Xem clip Bản tin đổi mã vùng điện thoại các tỉnh thành của VTV