Nắm vững cấu trúc đề thi mới

Năm nay đề thi tốt nghiệp được tích hợp với đề thi tuyển sinh đại học, vì vậy số lượng câu trung bình, dễ chiếm khoảng 36/50 câu, tăng lên so với các năm trước. Tuy nhiên, số lượng câu khó và rất khó cũng tăng lên tầm 8 đến 10 câu. Như vậy, nếu các em nắm vững kiến thức cơ bản và làm bài cẩn thận thì cũng có thể đạt mức điểm 7,5 đến 8 điểm khá dễ dàng.

Năm nay, số câu lí thuyết chiếm khoảng 50% đến 60% đề thi, vì vậy nếu các em muốn đạt kết quả cao trong môn hoá thì cần phải ôn tập thật tốt lí thuyết và hoàn thành tốt các câu lí thuyết có trong đề thi. Ngoài ra, năm nay cũng sẽ có một số câu hỏi ứng dụng hoá học trong đời sống, một câu ứng dụng đồ thị và một câu điều chế chất hoá học, hạn chế số câu yêu cầu học thuộc nhiều.

Phương pháp giải với từng dạng bài

I) Dạng bài lí thuyết:

1) Dạng bài đếm số nhận định: Dạng bài này kiểm tra lí thuyết khá sâu và đòi hỏi học sinh phải nắm vững được lí thuyết. Khi làm dạng bài này, các em nên đọc từ nhận định đầu tiên đến nhận định cuối cùng, sau đó nhận định nào thoả mãn thì đánh dấu vào đầu nhận định, sau đó đếm lại sẽ không bị đếm nhầm. Thứ hai, đa số các câu hỏi nêu ứng dụng của các chất ví dụ như ứng dụng của Crom, ứng dụng của phân bón kali, … thì thường là các nhận định đúng. Ngoài ra, cần phải đọc chính xác để tìm hiểu xem đề bài yêu cầu đếm số nhận định Đúng hay đếm số nhận định Sai để làm bài cho chính xác.
2) Dạng bài tìm nhận định đúng hoặc sai trong 4 đáp án A, B, C, D: Dạng bài này nên dùng phương pháp loại trừ là tốt nhất, do trong 4 phương án chỉ có duy nhất một đáp số đúng, vì vậy chúng ta cần đọc lướt qua 4 đáp án, sau đó gạch bỏ những đáp án chắc chắn sai, như vậy chúng ta sẽ có thể loại bớt đi các phương án nhiễu. Sau đó hãy vận dụng lí thuyết để tìm hiểu xem đáp án nào trong số các đáp án còn lại là đúng nhất.
3) Các vấn đề hoá học mà các em cần lưu ý: Phân biệt bậc của ancol, bậc của amin; phân biệt tính chất của rượu bậc 1, bậc 2 và bậc 3; phân biệt số oxi hoá và hoá trị; phân biệt cộng hoá trị và điện hoá trị; ghi nhớ tính chất hoá học của các kim loại quan trọng như Al, Fe, Cu, Cr, Ag, Hg.

II) Dạng bài tính toán:

1) Dạng cân bằng phương trình hoá học: Trong đề thi đại học các năm gần đây thường có ít nhất một câu dạng này. Khi làm các em cần chú ý tìm xem đề yêu cầu là tìm “tổng hệ số của các chất tham gia phản ứng” hay là tìm “ tổng hệ số của các chất có mặt trong phản ứng”. Nếu đề yêu cầu tìm tổng hệ số các chất tham gia phản ứng thì chúng ta chỉ tính tổng hệ số của các chất tham gia phản ứng, tức là ở phía bên trái của phương trình phản ứng mà thôi, không tính các hệ số của chất sản phẩm. Để làm tốt dạng này, các em cần vận dụng bảo toàn electron hoặc vận dụng phương pháp gắn hệ số.

2) Khi đi thi đại học thường các em chỉ cần vận dụng 4 phương pháp: Phương pháp Số Đếm, phương pháp bảo toàn electron, phương pháp trung bình và phương pháp bảo toàn khối lượng là có thể giải quyết 90% số câu tính toán trong đề. Các em nên phân tích đề bài để nhận diện được phương pháp áp dụng trước khi bắt tay vào tính toán.

Thường thì phương pháp trung bình và số đếm sẽ ứng dụng nhiều trong hoá hữu cơ, còn phương pháp bảo toàn electron và bảo toàn khối lượng sẽ áp dụng nhiều trong vô cơ. Dấu hiệu nhận biết bài toán dùng số đếm: Nếu đề bài cho một hỗn hợp chất có nhiều chất, đều biết hết công thức phân tử thì ta có thể vận dụng số đếm để giải. Dấu hiệu nhận biết bài toán dùng phương pháp trung bình: Nếu đề bài cho một hỗn hợp chứa nhiều chất mà ít nhất một trong số đó không biết công thức phân tử thì ta sẽ vận dụng phương pháp trung bình để làm.

Lưu ý khi vận dụng phương pháp bảo toàn electron: Vận dụng nhuần nhuyễn việc qui đổi hỗn hợp các chất thành nguyên tố (ví dụ qui đổi hỗn hợp chứa Cu_2 S,FeS_2,FeS,CuS thành hỗn hợp chỉ có Cu, Fe, S), ngoài ra chỉ quan tâm đến số oxi hoá đầu tiên và sau cùng của các nguyên tố, không quan tâm số oxi hoá trung gian

3) Khi làm các bài toán về Al, Zn tác dụng với axit nitric đặc nóng cần đọc kĩ đề xem khi tạo thành khí thì khí đó có phải là sản phẩm khử duy nhất hay không, nếu không phải sản phẩm khử duy nhất thì nhiều khả năng là sản phẩm sẽ có cả muối amoni trong dung dịch sau phản ứng.
4) Cần đọc kĩ xem các phản ứng có diễn ra hoàn toàn hay không, nếu ghi phản ứng hoàn toàn có nghĩa phản ứng đã kết thúc, sẽ có một chất phản ứng hết và một chất phản ứng dư. Nhưng nếu chỉ ghi là cho phản ứng diễn ra một thời gian hoặc ghi phản ứng không hoàn toàn thì cả 2 chất tham gia phản ứng đều có thể dư.

Gợi ý trong quá trình làm bài thi

Về quá trình làm bài thi, khuyến nghị các em học sinh làm từ câu 1 đến câu 50, nếu làm hơn 1 phút 30 giây mà không làm ra thì chuyển ngay sang câu tiếp theo để duy trì tốc độ làm bài thi. Nhưng cần nhớ đánh dấu vào những câu chưa làm được hoặc còn nghi ngờ để sau khi làm hết một lượt, sẽ quay lại và hoàn thiện nốt các câu còn dang dở. Ngoài ra khuyến khích các em viết đáp án trắc nghiệm ra giấy nháp (ở phần đầu tờ giấy nháp), sau khi còn 5 phút đến 7 phút thì sẽ chuyển đáp án sang phiếu trắc nghiệm, như vậy sẽ chuyên môn hoá hơn, tiết kiệm thời gian cũng như tránh sự cố khi điền nhầm đáp án vào giấy thi.

Các em nên hoàn thành các câu trung bình dễ trước khi làm sang các câu khó để đạt điểm số tối ưu.

Điều tuyệt đối không làm sau khi thi:

Tuyệt đối không được so đáp án sau khi thi xong vì hai lí do. Lí do thứ nhất là sẽ rất dễ ảnh hưởng đến tâm lí của các môn thi sau. Lí do thứ hai là các đáp án do các bên tự tổng hợp thường sai sót về tính toán, cũng như là sai sót về đáp án, vì vậy so đáp án là không cần thiết.

Chúc các em học sinh và phụ huynh học sinh có một kì thi đại học thành công, an toàn!

(Hoàng Đình Quang- Á khoa Đại học Ngoại thương)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)