Theo tin của “Japan News Network”, ngày 13.2 vừa qua, Nhật Bản đã tổ chức thành công thử nghiệm đa tính năng của loại thủy phi cơ trinh sát US-2 ở khu vực cửa biển thành phố Kobe. Loại thủy phi cơ này có tầm hoạt động tới 4.700km, bán kính tác chiến 2.200km, có khả năng cất, hạ cánh trên mặt biển trong điều kiện sóng cao 3m, cực kỳ phù hợp trong điều kiện sóng gió dữ dội ở khu vực quần đảo Senkaku.

Nguyên mẫu số 2 khi bay lên thì cụp bánh lái, gấp gọn hai bên sườn.

Nhật Bản là quốc đảo rộng lớn gồm nhiều quần đảo hợp thành, với bờ biển trải dài tới gần 3 vạn kilômét nên từ lâu Nhật đã rất quan tâm phát triển lực lượng thủy phi cơ. Ngay từ năm 1967, Cục Phòng vệ Nhật Bản đã tự lực nghiên cứu, chế tạo loại thủy phi cơ PS-1 và đưa vào sử dụng tới 23 chiếc (tại thời điểm đó, Trung Quốc chỉ có khoảng 10 chiếc). Tuy nhiên, do hạn chế về công nghệ nên loại máy bay này có trần bay thấp, hành trình ngắn, khả năng hoạt động trong thời tiết xấu hạn chế nên đầu thập niên 1990, Nhật đã loại bỏ toàn bộ số máy bay đó và phát triển thế hệ thủy phi cơ hiện đại hơn gồm 20 chiếc US-1A.

US-1A do Viện Nghiên cứu chế tạo máy thuộc Tập đoàn Shin Meiwa sản xuất, có khả năng cất, hạ cánh trên mặt biển trong điều kiện sóng cao 3m, tốc độ gió 25m/s (tương đương 90km/h), hành trình tối đa 3.000km, bán kính tác chiến 1.300km. Tuy vậy, trong thời điểm hiện tại các loại máy bay này cũng đã cũ, khó đáp ứng được yêu cầu tác chiến biển trong thời kỳ mới nên Nhật Bản đã quyết định phát triển thế hệ kế tiếp của nó là US-2.
Khi hạ cánh, phần khoang nổi dưới bụng sẽ hạ xuống trước.

Loại máy bay này được Viện Nghiên cứu chế tạo máy thuộc Tập đoàn Shin Meiwa phát triển trên cơ sở của US-1A theo yêu cầu riêng của Bộ Quốc phòng Nhật Bản: US-2 phải có tính năng tiên tiến nhất trong số các thủy phi cơ tuần tiễu và săn ngầm trên thế giới.

Trong giai đoạn đầu, US-2 được đặt tên là US-1A Kai với trọng điểm cải tiến tập trung vào hệ thống điều khiển và thao tác trên mặt nước và các thiết bị trinh sát trên máy bay. US-2 được thiết kế hệ thống điều khiển chiều dọc, tích hợp buồng lái kiểu tăng áp và hệ thống bảng điều khiển; thay đổi động cơ AE2100, thay bánh lái 3 lá bằng bánh lái 6 lá; giảm trọng lượng của 2 cánh chính, 2 tấm đệm giảm chấn sóng và trọng lượng khoang phao dưới bụng máy bay.

Giai đoạn chạy quán tính, 2 tấm đệm giảm chấn sóng sẽ hạ xuống nâng cao sức nổi của máy bay.

Tất cả những cải tiến trên đã giúp US-2 có sự thay đổi lớn về chất so với US-1A: Độ bay cao lên tới 6,1km (gấp đôi US-1A), tốc độ từ 490km/h nâng lên 560km/h, hành trình tối đa tăng lên gần 1.000km (4.700/3.800km). Điểm đặc biệt nhất là US-2 rút ngắn khoảng cách chạy đà cất cánh trên biển so với US-1A tới 38%- từ 735m rút xuống còn 460m, hạ cánh là 220m (với tải trọng 36 tấn). Về phương diện này, US-2 đã vượt qua những loại thủy phi cơ tiên tiến nhất trên thế giới hiện được một số nước trong khu vực sử dụng như: CL-415 của Canada với khoảng cách chạy đà cất/hạ cánh trên mặt nước là 814/655m (tải trọng 18 tấn) và Be-200 của Nga là 1.400/800m.

Với khả năng chìm trong nước, nó có thể dễ dàng chui qua gầm cầu.

US-2 được thiết kế cabin bằng thủy tinh gia cường, là loại thủy phi cơ cỡ lớn đầu tiên trên thế giới sử dụng cabin chịu lực, giúp máy bay có thể chịu được áp suất khi bay trên độ cao tối đa 9km và chịu được sức va đập của sóng gió lớn.

Hệ thống thiết bị trên máy bay có trình độ tự động hóa rất cao, hệ thống thông tin sử dụng các thiết bị trên dải sóng cao tần, rất cao tần và siêu cao tần (HF/VHF/UHF); hệ thống dẫn đường sử dụng phương thức hỏi/đáp thông tin vệ tinh 2 chiều (ARQ), thiết bị định vị toàn cầu GPS, thiết bị dẫn đường quán tính; hệ thống trinh sát sử dụng radar tìm kiếm mục tiêu, thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm và hệ thống radar đa nhiệm “Sea King” do Công ty Thomson/DASA sản xuất, đảm bảo máy bay có thể hoàn thành tất cả các nhiệm vụ: Tìm kiếm, cứu hộ; tuần tiễu và trinh sát chống ngầm. Chính vì sử dụng các thiết bị có khả năng tự động hóa cao nên US-2 đã giảm số lượng nhân viên từ 3 (US-1A) xuống còn 2 người.

Với bánh lái Dowty R414 loại 6 lá, US-2 có khả năng hạ cánh và di chuyển trên mặt biển như một tàu cánh ngầm.

Các tham số chính của US-2:

Chiều dài máy bay: 33,3m

Sải cánh: 33,2m

Chiều cao: 9,8m

Động cơ: 4 động cơ Rolls-Royce AE2100J

Chân vịt: Bánh lái Dowty R414 loại 6 lá

Trọng tải cất cánh tối đa/đường băng mặt đất: 47,7 tấn/460m

Tải trọng hạ cánh tối đa/đường băng mặt đất: 47,7 tấn/1.500m

Trọng tải cất cánh tối đa/mặt nước: 43 tấn/280m (36 tấn/220m)

Trọng tải hạ cánh tối đa/mặt nước: 43 tấn/330m (36 tấn/280m)

Hành trình: 3.700km

Bán kính tác chiến: 2.200km

Trần bay tuần tra: 6,1km

Trần bay tối đa: 9km

Tốc độ tuần tra: 480km/h

Tốc độ tối đa: 560km/h.


Hiện Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã đặt mua 14 chiếc làm nòng cốt trong lực lượng máy bay tuần tiễu và trinh sát chống ngầm của mình, đồng thời Nhật cũng triển khai thêm căn cứ thủy phi cơ thứ ba ở Okinawa làm căn cứ mẹ cho US-2 để nâng cao khả năng phản ứng nhanh trên biển, phụ trách công việc giám sát mọi động tĩnh của máy bay và tàu ngầm đối thủ tại khu vực Senkaku/Điếu Ngư.