´ Có  thể nói không quá rằng, hầu hết các bảo tàng ở ta đều xây để cho “có” rồi gần như bỏ không. Vậy, theo ông, làm thế nào để bảo tàng  tránh được sự “chết yểu” ấy?

- Phải thay đổi tư duy làm bảo tàng hoàn toàn mới, trên cơ sở hiện vật chứ không phải tư duy thông sử, chép sách.  Hiện nay, cách làm đề cương trưng bày phổ biến là không dựa vào hiện vật mà chỉ đơn giản là nghiên cứu lịch sử, trưng bày phải đầy đủ các thời kỳ phát triển, không thiếu được các sự kiện diễn ra trong lịch sử mà không cần biết trong tay mình có những hiện vật gì, có những bằng chứng lịch sử gì để trưng bày. Rồi thời kỳ nào, sự kiện nào không có hiện vật thì làm phù điêu và vẽ tranh để thay thế. Đó không phải là cách làm bảo tàng, nhưng lại ngự trị lâu nay ở các bảo tàng nước ta. Làm bảo tàng là phải biết đọc hiện vật và xem bảo tàng mình có cái gì thì lên ý tưởng trưng bày cái đó. Nếu bây giờ chúng ta không thay đổi cách làm thì sau này bảo tàng vẫn không bao giờ thu hút được khách. Và không cẩn thận, Bảo tàng Lịch sử quân sự đang chuẩn bị xây dựng với quy mô 45ha, cũng sẽ rơi vào tình trạng hoạt động èo uột chung.

´ Ông cũng là một thành viên tư vấn khoa học “Đề cương nội dung và hình thức trưng bày” BTLSQG. Vậy, ông có góp được gì vào việc thay đổi tư duy làm bảo tàng ở những nhà quản lý hiện nay?

- Tôi cũng như các thành viên khác đều đưa ra những quan điểm của mình. Nhưng tiếp thu đến đâu là quyền của người lãnh đạo bảo tàng. Ngay cả khi có đề cương chuẩn, việc thể hiện đề cương ấy cũng không hề dễ dàng, do vậy phải tiến hành song song hai việc: Xây dựng cơ bản và xây dựng nội dung trưng bày. Tôi lấy ví dụ một nhóm chuyên gia Pháp đã giúp xây dựng BT Dân tộc học, làm thay đổi bộ mặt Bảo tàng Phụ nữ VN, Bảo tàng Đắc Lắc... và đang giúp một số bảo tàng khác nữa, gồm 3 người. Trong đó, một người chuyên lo tư vấn về nội dung trưng bày (tổ chức hệ thống hiện vật; gợi những ý tưởng, chủ đề, tức là thể hiện cách kể chuyện bằng các cứ liệu - hiện vật). Một người tư vấn về lộ trình trưng bày (gồm cả kệ, giá, tủ và hình thức trưng bày) và người nữa chuyên lo về đồ họa (màu sắc, ánh sáng; cỡ chữ thuyết minh, hệ thống panô, bảng biểu...). Những việc ấy, cho đến tận giờ chúng ta chưa có chuyên gia. Và tôi khẳng định, với quy mô của BTLSQG thì các nhà bảo tàng, các kiến trúc sư, các họa sĩ nội thất của VN hiện nay không đủ sức và không đủ tầm để làm nội dung và thiết kế trưng bày

´ Giả thiết chúng ta đã có đội ngũ chuyên viên đủ sức, đủ tầm trong tay, theo ông, phải mất bao lâu mới hoàn thành được việc trưng bày?

- Tôi được biết, Bảo tàng Quai Brandly ở Paris (Pháp) và Bảo tàng Cổ vật Ai Cập, từ khi bắt đầu nghiên cứu ý tưởng đầu tiên cho đến khi khánh thành, họ xây dựng lộ trình là 10 năm. Trong 10 năm ấy vừa xây dựng, vừa chuẩn bị nội dung, hai quá trình ấy luôn phải song song.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

 “Phần lớn các BT chỉ làm chức năng tuyên truyền như cách đây 40 - 50 năm. Định nghĩa mới nhất về BT trong các văn bản của UNESCO, ICOM (các tổ chức quốc tế về bảo tàng)... thì đều cho rằng một trong những chức năng quan trọng nhất của bảo tàng là giáo dục. Giáo dục chứ không phải là tuyên truyền. Đó là 2 câu chuyện, 2 phương pháp rất khác nhau. Ở ta, những người làm nghề đấu tranh mãi để đưa nội dung “giáo dục là một trong những chức năng của BT” vào Luật Di sản văn hóa sửa đổi. Nhưng cuối cùng lại không được thông qua. Có nhiều lý do để người ta không quyết, trong đó có lý do được nêu không đủ sức thuyết phục là về mặt quản lý: Nếu làm giáo dục thì phải là chức năng của Bộ GDĐT, chứ không thể là của Bộ VHTTDL được. Đó là một cách hiểu làm chậm sự phát triển của các bảo tàng. Hy vọng Luật Di sản sửa đổi lần tới mới có thể bổ sung chức năng giáo dục của bảo tàng. Những vấn đề  ấu trĩ, sơ đẳng như thế vẫn tồn tại thì tình trạng “chết yểu” ở hầu hết bảo tàng VN là đương nhiên”. TS.Nguyễn Văn Huy