Mà quả thật, nếu không dõi sâu vào bản lĩnh văn hóa Việt Nam, cốt lõi của sức mạnh làm nên chiến thắng thì cũng khó để cảm nhận được ý tưởng lớn ấy. Trên trang sử vàng của dân tộc ta, văn hoá và con người là cội nguồn của mọi thắng lợi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Chỉ bằng văn hoá và con người chúng ta mới thật sự hiểu được, đánh giá được những sự kiện lịch sử với tầm vóc vốn có và cần có.

Ngược dòng lịch sử, từ ngày mở đầu thời kỳ tự chủ thoát khỏi ách Bắc thuộc, trong những chủ trương, chính sách được xem là “cương lĩnh dựng nước” vào năm 907, Khúc Hạo đã khẳng định: “Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị” khiến cho “trăm họ đều được yên vui”. Trong cái thế “chẳng đặng đừng” của tình huống “gươm dơ lấy nước làm sạch, nước dơ lấy máu làm sạch”, ông cha ta phải tuốt gươm. Thế nhưng, khi “Giặc tan muôn thuở thanh bình” thì lại nghiệm ra rằng “Sông đây rửa sạch giáp binh... Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao” (Trương Hán Siêu - “Bạch Đằng Giang phú”).

Đừng quên rằng, bài phú sông Bạch Đằng được làm ra trong khí thế ngút trời của ba lần đại thắng quân Nguyên, ấy vậy mà kết thúc bài phú lại mượn ý của Đỗ Phủ “an đắc tráng sĩ vãn Thiên hà, tĩnh tẩy giáp binh trường bất dụng” [ước gì được tráng sĩ kéo sông Ngân hà xuống, rửa sạch giáp binh mãi mãi không dùng nữa] để nói lên cái khát vọng hòa bình, an lạc thấm đẫm triết lý nhân văn của ông cha ta. Cũng vào thời điểm ấy còn có bài “Trảm xà kiếm phú” của Sử Hy Nhan cho rằng: “sinh ở thời văn minh không nên bàn về uy vũ, sống ở thời thịnh trị chớ có nói chuyện chiến tranh” và kết thúc bằng mấy câu sau :

Kiếm này! Kiếm này! Là vật chẳng lành
Thánh nhân túng thế mới dùng mi, đâu phải vật quý
Ôi! Thánh triều ta sùng thượng văn học
Thiên hạ nhất thống, thái bình thịnh trị
Nếu có kiếm chừ, dùng đến mà chi.

Phải chăng “sùng thượng văn học”, chính là đề cao sức mạnh văn hóa, đúng hơn, là bản lĩnh truyền thống dân tộc đã xây đắp nên nền văn hóa Việt Nam, cội nguồn của sức mạnh Việt Nam. Ngày 30.4, non sông quy vào một mối, là một cột mốc chói lọi tô điểm thêm vào trang sử vàng của Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, liệu có nên nhắc lại triết lý nhân văn của hai bài phú viết nên ở thế kỷ XIII nói trên?

Thật ra, đã từng có nhiều cách để diễn đạt điều khi xác định “đoàn kết là lẽ sinh tồn của dân tộc ta từ ngàn xưa, là sức mạnh vô địch của cách mạng nước ta hiện nay và sau này. Tư tưởng và đạo đức ấy thể hiện tinh thần hòa hợp dân tộc, tình tương thân tương ái của con người, sự độ lượng bao dung và lòng quý trọng từng nhân cách, tập hợp được đông đảo nhân dân, động viên được công sức tài năng của mọi người, không bỏ rơi, không để sót một ai” (Phạm Văn Đồng. “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” NXB CTQG Hà Nội 1998, tr.186). Trên tinh thần đó, Võ Văn Kiệt thẳng thắn nói rõ: “Tôi mong chiến tranh thực sự phải thuộc về quá khứ... Hòa hiếu và khoan dung là truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam... và Việt Nam sẽ thêm phát triển khi mọi người Việt Nam dù ở đâu cũng đều ở trong một cộng đồng hòa hợp”!

Những suy tư ấy thấm đẫm tính nhân văn trong truyền thống Việt Nam.

Trong thư trả lời cho một bà mẹ Pháp, Bác Hồ viết: “Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau. Hỡi các bà mẹ Pháp! Tôi kêu gọi tinh thần yêu nước cao quý và tình mẫu tử của các bà. Các bà hãy giúp chúng tôi ngăn chặn những hiểu lầm và mau chóng gây dựng mối tình hữu nghị và tinh thần hoà hợp giữa các con em chúng ta.

Không từ tầm cao văn hóa để phát huy bản lĩnh của dân tộc mà ông cha ta từng vun đắp thì hệ lụy gây nên từ những quyết sách có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của đất nước sẽ khó mà lường nổi. Bởi vậy, vào dịp kỷ niệm ngày non sông quy vào một mối, ngày 30.4 lịch sử, nghĩ sâu vào bản lĩnh văn hóa dân tộc là điều cần đặt ra.