Công xưởng.     Sơn mài: Lê Quảng Hà

Một triển lãm với ý đồ trình bày những cổ vật từ thời Đông Sơn cho đến những tác phẩm hội hoạ, điêu khắc cận, hiện đại VN để đưa tới cho người xem một khái niệm về dòng chảy mỹ thuật VN từ cổ chí kim. Trong khuôn khổ một triển lãm, với một kì vọng lớn như vậy thì khó có thể đầy đủ những tác phẩm tiêu biểu để có được một cái nhìn tổng quát. Tuy nhiên, với nỗ lực của các nhà tổ chức, chúng ta cũng có thể chiêm nghiệm được quan niệm thẩm mỹ của người Việt qua từng chặng đường lịch sử.

Nếu tính từ nền văn hoá Đông Sơn rồi qua nền văn hoá 10 thế kỉ đầu công nguyên cho đến nền mỹ thuật thời Lý - Trần theo như cách bố cục của triển lãm thì chúng ta có thể dễ dàng nhận ra những đứt đoạn trong mỗi chặng đường lịch sử với những vết tích của nghìn năm Bắc thuộc, nhưng rõ ràng dấu ấn thẩm mỹ của người Việt ngày càng rõ nét, và đặc trưng rực rỡ hơn cả là nền mỹ thuật thời Lý - Trần trở đi.

Nói nền mỹ thuật của giai đoạn này có nghĩa cụ thể là nền điêu khắc đình chùa và gốm sứ, chứ hội hoạ thì chưa có được một diện mạo nào.

Thiếu nữ Huế. Mai Trung Thứ

Có lẽ điều đó cũng bởi tâm lý đời sống người Việt trong khuôn khổ bó hẹp của cơ cấu phong kiến nhỏ lẻ, chịu nhiều tinh thần Nho giáo và ngay cả Phật giáo cũng giản dị, không nhiều uy quyền như đế chế phong kiến Trung Hoa. Ở VN, làng nào cũng đều có đình có chùa, nhưng rõ ràng đình chùa VN thân mật và gần gũi với đời sống người dân vùng dân cư đó. Đó là lý do cho tất cả những tác phẩm chạm khắc, tượng, cảnh quan của đình chùa VN phong phú, mềm mại và nhiều mơ ước hơn những quy định chặt chẽ của nền Phật giáo phương Bắc.  Cho đến những vật dụng gốm sứ thì mới thấy ý niệm trên càng rõ nét và riêng biệt. Những liễn, lọ, bình, bát, đĩa, chân đèn, thạp... đều tinh tế và phóng túng, điệu đàng nhưng vẫn thông dụng.

Triển lãm không có nhiều cổ vật nhưng cũng đủ để thấy được tinh hoa của một giai đoạn dài không hề bị lệ thuộc về những quy ước với kỹ thuật cũng như thẩm mỹ của những nền văn hoá láng giềng, cho dù có bị ảnh hưởng chăng nữa.

Phần mỹ thuật cận và hiện đại tại triển lãm cũng cho chúng ta có được cái nhìn phổ quát con đường sáng tạo theo dòng lịch sử. Thực ra mỹ thuật, hoặc nói cụ thể hơn là nền hội hoạ và điêu khắc hiện đại VN mới chỉ được bắt đầu từ khi người Pháp sang mở trường Mỹ thuật Đông Dương vào năm 1925. Trước đó chúng ta có một đời sống mỹ thuật tự phát và nhỏ lẻ, chủ yếu là những bức tranh dân gian, tranh thờ cúng.

Tất nhiên cũng rất riêng một quan niệm thẩm mỹ. Nhưng hội hoạ phương Tây với luật viễn cận, với chất liệu mới cộng với quan niệm mới đã khai sinh ra một nền mỹ thuật rất phù hợp với đời sống đô thị mới hình thành. Và, những tác phẩm đầu tiên của nền mỹ thuật mới này là khuynh hướng thoả mãn thị giác với những đề tài phong cảnh thiên nhiên, cô gái, hoa, hoặc sinh hoạt cộng đồng có tính chất mộng mơ. Điều đó là đúng đối với tình cảm và ước mơ của những thế hệ hoạ sĩ đầu tiên đều được xuất xứ từ tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Nhưng rõ ràng sự chuyển biến tiếp theo của hội hoạ cũng phần nào ăn nhập được với những biến đổi của xã hội.

Liễn. Gốm men trắng TK 11, 12

Sau những bức tranh rất đẹp của Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Tô Ngọc Vân... là những tác phẩm chứa nhiều ưu tư hơn của thế hệ tiếp theo. Và rồi cho đến hội hoạ đương đại hôm nay thì quả là mỹ thuật VN đã đi những bước dài rất có ý nghĩa. Chúng ta đã có một đời sống mỹ thuật phong phú, đa dạng mà những gương mặt tiêu biểu trên từng chặng đường, đành rằng chưa đông đảo, nhưng rất rõ một sắc thái riêng biệt. Nếu xét về mặt thời gian mà nói, thì mỹ thuật VN quả là non trẻ, nhưng với những gì đã có thì chúng ta có quyền yên tâm khi nhìn sang những quốc gia bên cạnh. Triển lãm này thêm một lần chứng minh điều đó.

Trịnh Tú