Lãi suất trái chiều

Theo khảo sát hiện nay, các ngân hàng có vốn hoá lớn tuy luôn có lợi thế trong huy động tiền gửi tiết kiệm, nhưng cũng phải cạnh tranh khá khốc liệt, do lãi suất tiết kiệm ngân hàng lớn thấp hơn khoảng 1 - 2%/năm so với các ngân hàng quy mô nhỏ. Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ càng phải cạnh tranh gay gắt hơn trong huy động tiết kiệm. Hiện lãi suất huy động tiền gửi ở một số ngân hàng nhỏ đã nhích thêm 0,2%/năm so với 2 tháng trước ở các kỳ hạn dài ngày.

Mức lãi suất trung bình các ngân hàng cổ phần đang huy động là 8,2%/năm cho kỳ hạn tiền gửi 15 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ. Hoặc lãi suất huy động kỳ hạn dài 13 - 15 tháng lãi suất ở mức 7,8 - 8,1%/năm. Thậm chí, tại một số ngân hàng, để cạnh tranh trong thu hút nguồn tiền nhàn rỗi, đã cho phép khách hàng được phép rút một phần vốn gửi tiết kiệm trong sổ hưởng lãi suất không kỳ hạn cho phần rút trước hạn. Phần còn lại vẫn được duy trì mức lãi suất ban đầu cho đến ngày tất toán, nhằm tạo điều kiện linh hoạt đồng vốn cho khách hàng.

Lãi suất liệu có hạ thêm?

Thực tế cho thấy, không nhiều ngân hàng dư thừa thanh khoản để có thể hạ lãi suất huy động, trong khi vẫn biết phải cạnh tranh lãi suất cho vay mới giành được thị phần tín dụng.

Các chuyên gia cho rằng, theo quy định của Thông tư số 06/2016/TT-NHNN, kể từ đầu năm 2017, hệ số sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các ngân hàng từ 60% xuống 50%, đồng thời nâng hệ số rủi ro đối với các khoản kinh doanh bất động sản từ 150% lên 200%. Để đáp ứng quy định này, các ngân hàng phải tăng huy động vốn trung và dài hạn, giảm ngắn hạn nhằm cơ cấu lại nguồn đã cho vay. Do đó, đây là thời điểm một vài nhà băng tập trung hút vốn trung dài hạn bằng cách tăng lãi suất dài và giảm lãi suất ngắn để cân đối nguồn vốn.

Tuy nhiên, nếu thị trường tiền tệ chỉ dừng lại với diễn biến như vậy thì vẫn chưa thể hỗ trợ được cho cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Bởi lẽ, kỳ vọng của cả nền kinh tế vào thời điểm hiện tại là việc NHNN sẽ hạ thấp mặt bằng lãi suất huy động và cho vay xuống mức ngang bằng với các nước trong nhóm ASEAN 4 (Singapore, Thái Lan, Malaysia và Philippines), qua đó góp phần giúp các doanh nghiệp có điều kiện giảm thiểu chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh so với hàng hóa của các nước trong khu vực.