Dẫn đầu tuyệt đối

Trong đó, thể thao TPHCM nổi nhất với "mũi nhọn" thành tích cao, khi ngay trong thời bao cấp gian khó cũng đã duy trì được một đội ngũ quản lý, HLV giỏi, lực lượng VĐV các tuyến hùng hậu, với một cách làm tương đối hiện đại, mang đúng nghĩa thành tích cao. Cần nhớ rằng, lúc này, các địa phương khác đang chủ yếu dừng ở mức… cố gắng duy trì.

Điều này đã được thể hiện sinh động, mạnh mẽ bằng chính những thành tích ngoạn mục, những gương mặt nổi trội trên mọi đấu trường, mà có lẽ phải dành cả một cuốn sách mới có thể phản ánh đầy đủ. Trong ba kỳ đại hội TDTT toàn quốc (1985 - 1990 - 1995), nơi phản ánh rõ nhất sức mạnh thể thao của một đơn vị, mới đi nửa chặng đường, TPHCM đã giành ngôi nhất toàn đoàn, bỏ xa Hà Nội. Chưa kể, ở hàng loạt môn cơ bản hoặc đại chúng, họ đều thống trị. Tiêu biểu như điền kinh liên tục dẫn đầu toàn quốc 23 năm (1976 - 1993), bóng chuyền nam vô địch quốc gia 11 năm liền (1987 - 1997), thể dục dụng cụ nữ là số 1 cho đến năm 1997. Rồi bóng bàn nam, hay ngay cả bóng đá đều giữ vai trò "xung kích" cả nước. Bơi thì luôn nhất tuyệt đối, đến mức cả làng bơi phải chán nản, thay đổi cả điều lệ để tạo cơ hội cho các đối thủ yếu hơn hẳn...

 Trương Hoàng Mỹ Linh, Lê Huỳnh Đức -  hai trong những “sản phẩm”  xuất sắc của thể thao TPHCM. Ảnh: T.L 

Không phải ngẫu nhiên ở thời hoàng kim, danh hiệu "nữ hoàng" hai môn quan trọng nhất đều dành cho tuyển thủ của thành phố mang tên Bác: Trương Hoàng Mỹ Linh (điền kinh), Nguyễn Kiều Oanh (bơi). Trần Tuấn Anh là nam VĐV bóng bàn nhiều lần đăng quang ngôi VĐQG nhất, còn Lê Hồng Hảo là chủ công hay nhất của bóng chuyền VN trong cả thập kỷ. Ngay bóng đá, những Đặng Trần Chỉnh, Lư Đình Tuấn, Võ Hoàng Bửu, Lê Huỳnh Đức, Trần Minh Chiến cũng là sản phẩm của thời vàng son này.

Chuyện 21kg gạo

Có thể dẫn ra đây đủ các nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan để lý giải cho thời kỳ "Vàng" của thể thao TPHCM: Điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi hơn mặt bằng chung, phong trào và truyền thống rèn tập của người dân, rồi đội ngũ HLV, và nhất là những người quản lý có tâm huyết, trình độ, tầm nhìn, mà như lời đúc kết của nguyên Giám đốc Sở TDTT Lê Bửu là: “Có nghề”.

Tuy nhiên, thể thao TPHCM chỉ có thể thành công như vậy, khi tất cả những điều kiện kể trên được hội tụ thành một cách nghĩ, cách làm phù hợp, có bản sắc thực sự, tạo ra một địa phương thực sự “đi trước, về trước” cả nước.

Khi mà cả nước hãy còn mò mẫm làm thể thao thành tích cao theo kiểu được chăng hay chớ, thì TPHCM đã sớm tổ chức được hệ thống đào tạo VĐV bài bản, kết nối nhịp nhàng giữa thể thao phong trào với thể thao đỉnh cao, được “kết đọng” lại ở mô hình tuyệt vời vào thời điểm ấy - Trường Năng khiếu - Nghiệp vụ TDTT TPHCM. Chính môi trường này đã giải quyết, dung hòa được những vấn đề trong phát hiện, đào tạo tài năng thể thao - “bệ phóng” cho hầu hết những VĐV nổi danh của TP.

Ngoài những người thầy giỏi, say nghề, có phương pháp huấn luyện mới, thì nơi đây đã sớm có những cơ chế chính sách đặc thù, mà hiện nay được gọi là “chăm sóc đặc biệt”. Trong đó, người ta nhắc mãi về 21kg gạo/tháng mà một học viên của trường được hưởng - một mức mà hồi đó có thể coi là mơ cũng khó so với mặt bằng chung, đảm bảo để họ có thể yên tâm phấn đấu hết mình vì sự nghiệp.

Cũng chính TPHCM là địa phương duy nhất mà ngay những năm bao cấp khó khăn vẫn có một chế độ lương, thưởng riêng cho HLV, VĐV - Quyết định số 444, ban hành từ năm 1982. Theo đó, những tuyển thủ lập công lớn đã được xem xét phần thưởng giá trị, kể cả xe đạp là một tài sản lớn hồi ấy…

Chẳng thế mà, hồi tưởng lại, những người trong cuộc hãy còn bồi hồi “làm thể thao hồi đó mê thật”.

Có một câu chuyện “kinh điển” của thể thao TPHCM vẫn được nhắc lại về sự quan tâm đặc biệt dành cho thể thao, cũng như vai trò tham mưu của các nhà quản lý ngành khi thuyết phục được lãnh đạo thành phố tạm hoãn việc xây dựng hội trường thành ủy, để dành chính khoản kinh phí đó ưu tiên xây mới Nhà thi đấu Phan Đình Phùng vào năm 1982.