Khi bà Lê Thị Mít bị đánh thức vào ban đêm bởi những tiếng rên rỉ của đứa con trai 34 tuổi, bà lại nghĩ đến ký ức đầy ám ảnh về những chiếc máy bay Mỹ rải hoá chất độc hại xuống ngôi làng của mình cách đây nửa thế kỷ.

Ba trong bốn đứa con của bà khi sinh ra đã bị dị tật nghiêm trọng. Một trong số đó chết khi còn nhỏ. Trường, 28 tuổi, không biết đi, chỉ biết bò vì đôi chân dính chặt, anh cũng không thể nói, tự tắm hay tự ăn. Lanh, 34 tuổi, phải nằm liệt trên chiếc giường gỗ. Mong muốn của bà Mít là các con của bà chết trước, vì nếu bà ra đi sẽ không có ai chăm sóc cho họ.

Với việc Tổng thống Obama dự kiến thăm Việt Nam vào tháng 5 năm nay trong bối cảnh quan hệ giữa hai cựu thù đang ấm dần lên, Mỹ đã cam kết chữa lành những vết thương kéo dài do chất da cam hay những chất độc khác mà quân đội Mỹ đã thả xuống Việt Nam trong cuộc chiến.

Một dự án thí điểm với số tiền 100 triệu USD để loại bỏ những "điểm nóng" dioxin tại Đà Nẵng mới chỉ là sự mở đầu của chiến dịch dọn sạch môi trường rộng hơn. Nhưng chính phủ Mỹ đã dành quá ít chi phí cho việc giúp đỡ, chữa trị các nạn nhân. Trong nhiều thập kỷ, các quan chức Mỹ đã giảm thiểu hoặc bác bỏ các vấn đề về sức khoẻ ở Việt Nam. Nhưng Mỹ hiện đang dần gia tăng tài trợ cho các nạn nhân, chính phủ cả hai nước giờ đã có thể sẵn lòng bàn luận về chất độc da cam. Quốc hội Mỹ đã chi 7 triệu USD trong năm nay cho các chương trình chăm sóc sức khoẻ và và cho người khuyết tật ở Việt Nam, phần lớn là nạn nhân da cam.

"Chúng tôi không hề biết về bất kỳ nghiên cứu khoa học được chấp nhận một cách rộng rãi nào về mối liên hệ giữa dioxin với các dạng khuyết tật về thể chất hoặc tâm lý" - Tim Rieser, trợ lý chính sách đối ngoại lâu năm của thượng nghị sĩ Patrick J. Leahy - cho biết. Nhưng "Mỹ về cơ bản đang thừa nhận những hành động của mình có thể là tác nhân gây hậu quả, và thượng nghị sĩ Leahy tin rằng chúng tôi có trách nhiệm giúp giải quyết vấn đề này".

Một đất nước bị đầu độc

Ở những nơi như Cam Lộ, khu vực bị phun chất độc khá nặng nề, nơi tỉ lệ dị tật bẩm sinh tăng mạnh sau chiến tranh, các tổ chức chính phủ lẫn phi chính phủ đã vào cuộc nhằm giảm bớt gánh nặng cho những gia đình có người bị chất độc da cam, đồng thời họ cũng được nhận một khoản tiền nhỏ từ chính phủ Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều nhà hoạt động tại Mỹ lại đang trốn tránh trách nhiệm thật sự. "Chính phủ Hoa Kỳ sẽ không bao giờ nhận trách nhiệm về việc này đâu" - Suel Jones, thành viên tổ chức Cựu chiến binh Vì Hoà bình cho biết. Jones đã chiến đấu tại Việt Nam trong vai trò lính hải quân và rồi quay lại đây hỗ trợ những nạn nhân chiến tranh. "Nói gì thì nói, nhưng chúng tôi đã phun chất độc một cách nặng nề trên đất nước này".

Các lực lượng Hoa Kỳ đã rải 21 triệu lít chất diệt cỏ xuống miền nam Việt Nam trong giai đoạn 1961-1971, trong đó có 12 triệu lít chất da cam. Cho dù giới chức Mỹ nói với công chúng rằng những chất hoá học đó là vô hại đối với con người, nhưng chất da cam có chứa dioxin là hóa chất có hàm lượng độc rất lớn. Qua tiếp xúc trực tiếp, hoặc từ những thức ăn nuôi trồng ở những nơi bị nhiễm độc, hàng nghìn người Mỹ và hàng triệu người Việt đã bị nhiễm dioxin. Không có cách nào điều trị cho họ.

Theo một đạo luật năm 1991, Bộ Cựu Chiến binh Mỹ đã bồi thường cho các cựu binh Mỹ từng tiếp xúc với chất độc da cam đang phải chống chọi với ung thư, tiểu đường hay các loại bệnh khác. Tuy nhiên các nạn nhân ở Việt Nam lại không có được sự bồi thường tương tự từ chính phủ Mỹ. Những nạn nhân Việt Nam kiện các công ty sản xuất hoá chất diệt cỏ đã bị quan toà Mỹ làm ngơ, một vụ kiện như vậy cũng đang chờ được xét xử tại Pháp.

Những bằng chứng khoa học về các khiếm khuyết thể chất liên quan đến việc rải chất độc của Mỹ - việc có thể dẫn tới các trách nhiệm pháp lý - sẽ rất khó khăn và tốn nhiều tiền ở một đất nước đang phát triển, nơi các yếu tố môi trường khác có thể cũng dẫn đến ngộ độc dioxin. Các bác sĩ ở đây không có xu hướng chẩn đoán những dị tật bẩm sinh cụ thể như nứt đốt sống hoặc bại não, thường họ chỉ giả định rằng trẻ em bị khuyết tật trong những khu vực nhất định là nạn nhân của chất độc da cam. Ước tính khoảng 3 triệu người Việt Nam đang phải chống chọi với những vấn đề về sức khoẻ có liên quan đến chất độc da cam.

Cái "lò" khổng lồ

Trong khi hầu hết chất dioxin đã tiêu tan trong những năm qua, một công ty nghiên cứu Canada đã xác định 3 điểm nóng chính, nơi mà chất độc da cam vẫn còn lưu lại. Và 20 địa điểm khác ở Việt Nam có thể là điểm nóng ô nhiễm chất độc.

Các căn cứ không quân Đà Nẵng là nơi đầu tiên được làm sạch, dưới một dự án chung năm 2012 của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ và chính phủ Việt Nam. Đất ô nhiễm được đưa tới hệ thống lò đốt lớn. Khi hệ thống đã chứa 45.000 m3 đất - bằng lượng đất trong sân bóng đá - cái "lò" được bao bọc bởi các khối bê tông. Sau đó, họ tăng nhiệt độ lên cao. 

Qua nhiều tháng, số đất đó được làm nóng đến 635 độ C qua hệ thống ống nhiệt. Nhiệt độ ấy sẽ loại đi tất cả những chất độc trong đất, mà về sau chúng sẽ được sử dụng để xây dựng đường bay mới cho máy bay tư nhân. Dự án được dự tính sẽ mất 43 triệu USD và kết thúc trong năm nay, nhưng những hỏng hóc và trì hoãn đã đẩy chi phí lên đến 100 triệu USD và phải tận tới năm 2018 mới hoàn thành.

USAID và các nhà quản lý dự án cho biết, hai giai đoạn đầu đã xử lý thành công chất độc dioxin bằng nhiệt. Điểm dừng chân tiếp theo là điểm nóng da cam lớn nhất, căn cứ không quân Biên Hoà gần thành phố Hồ Chí Minh, nơi chi phí dọn dẹp có thể lên đến 250 triệu USD và thời gian có thể sẽ kéo dài hơn một thập kỷ.

Khó có thể định lượng được những thiệt hại về người. Tại Đà Nẵng, người dân vẫn đánh bắt cá từ hồ chứa chất độc cho đến tận năm 2012 khi sân bay bắt đầu được xử lí, và đã có hàng nghìn nạn nhân được cho là đã nhiễm độc tại khu vực đó. Ở một trung tâm chữa trị do nước ngoài tài trợ, trẻ em và những người khiếm khuyết tinh thần thường chơi trong lớp học, còn những người nặng hơn phải nằm trong bệnh viện. Trong nhiều trường hợp, sự lây nhiễm bắt đầu từ ông bà. "Khi một quả bom được thả xuống, nó giết chết một người. Họ ra đi, thế là hết. Nhưng nỗi đau đớn còn kéo dài qua 3 đến 4 thế hệ" - bà Nguyễn Thị Hiền, phụ trách trung tâm nói.