* Đại sứ đánh giá điểm nhấn của chuyến thăm sẽ là gì?

- Điểm nhấn của chuyến thăm là thể hiện tính toàn diện của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, với những vấn đề ưu tiên đặt ra trong khuôn khổ đối tác toàn diện,  từ chính trị ngoại giao đến kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, an ninh quốc phòng, không chỉ nằm trong khuôn khổ hợp tác song phương mà cả những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Thứ hai, hiếm nước nào có lịch sử như quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ,  có thể chế khác biệt, nên  cần tăng cường quan hệ chính trị trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng, hợp tác cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau kể cả tôn trọng thể chế chính trị.

Thứ ba, nhìn chiều dài suốt 20 năm qua, điểm sáng luôn là vấn đề kinh tế và cần tiếp tục coi đây là động lực trong quan hệ.

* Trong phát biểu gần đây tại Đại học Texas, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nhắc tới bài học chiến tranh Việt Nam. Việc Mỹ tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh cần đẩy mạnh thế nào để thể hiện trách nhiệm của nước Mỹ?

- Trong quá trình trao đổi của lãnh đạo, quan chức hai bên, hoặc giữa tôi với phía Mỹ, họ đều nói  tiếp tục cam kết với Việt Nam để thúc đẩy khắc phục hậu quả chiến tranh, như rà phá bom mìn vật nổ, tẩy độc và khắc phục hậu quả dioxin. Tôi tin trong chuyến lần này hai bên sẽ tiếp tục bàn thảo vấn đề này, làm sao khắc phục. hậu quả cũng như tăng cường khuôn khổ đối tác toàn diện.  Cuộc chiến đã gây quá nhiều đau thương, mất mát. Hai bên chủ trương khép lại quá khứ, hướng tới tương lai và xử lý vấn đề này trên tinh thần trách nhiệm và nhân đạo, nhìn tới tương lai và không bị quá khứ cầm tù để có thể mở rộng không gian hợp tác.

* Những yếu tố nào có thể thúc đẩy sự tin cậy giữa hai nước?

- Có lẽ bài học lớn nhất khi ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác chính là dựa trên cơ sở bình đẳng, hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau.  Thứ hai, trong quá trình hợp tác có những quan điểm khác biệt, phải xử lý thông qua đối thoại một cách xây dựng và hiểu biết. Mặt khác,  không gian hợp tác và lợi ích của hai nước để tăng cường hợp tác còn rất rộng. Chẳng hạn hợp tác kinh tế rất phát triển, kim ngạch thương mại tăng 20% mỗi năm, 20 năm qua tăng 90 lần, đến giờ là hơn 45 tỉ USD. Tất nhiên vẫn còn nhiều rào cản trong thương mại, chẳng hạn như Mỹ chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, nếu bỏ đi rào cản đó, hoặc việc khai thác Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình DươngTPP, sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn nữa. Rồi hợp tác những  vấn đề khác như chống biến đổi khí hậu, hạn hán ngập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long… Khuôn khổ hợp tác an ninh quốc phòng cũng đang được mở rộng từng bước, phù hợp với lợi ích hai bên, đóng góp tích cực cho hòa bình ổn định và phát triển khu vực. Mỗi lĩnh vực còn rất nhiều không gian hợp tác, và càng mở ra không gian hợp tác càng tăng cường sự tin cậy hai bên.

Về lệnh cấm vận vũ khí, Việt Nam đã đề nghị và Mỹ xem xét nghiêm túc. Tôi rất trông đợi việc này, lẽ ra phải thực hiện càng sớm càng tốt. Nếu Mỹ công bố bỏ cấm vận trong chuyến thăm này  thì rất đáng hoan nghênh.

* Cộng đồng người Việt ở Mỹ nhìn nhận chuyến thăm thế nào và trông đợi những gì từ chuyến thăm?

Trong  cả tiến trình, khi hai nước ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác thì càng  tạo điều kiện để quan hệ giữa quê hương đất nước với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trong đó có Hoa Kỳ, được mở rộng và thuận lợi hơn nhiều. Họ đi lại, trở về thăm thân, nhiều người trở về định cư, làm ăn kinh doanh, tham gia giảng dạy… Hiểu biết của bà con với đất nước Việt Nam đổi mới càng sâu sắc hơn, càng trông đợi vào sự phát triển năng động và vai trò quốc tế của Việt Nam. Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ có những đặc thù, ra đi vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do ra đi vì hậu quả chiến tranh nên nhiều người vẫn còn  trăn trở.  Tôi tin với những chuyến thăm cấp cao này, sự hiểu biết, gắn bó với quê hương và đóng góp với quê hương, tạo cầu nối giữa hai bên càng được tăng cường.

Nhìn lại 30 năm đổi mới, sự phát triển kinh tế, mở rộng quyền sống, mở rộng bảo đảm phúc lợi của người dân, các quyền của dân, tăng cường vị thế, sự chủ động hội nhập của Việt Nam… đã làm nền tảng cho sự trông đợi và niềm tin của người dân trong nước và bà con ở nước ngoài.

* Trong bối cảnh biến động hiện nay, Việt Nam có vị trí thế nào trong chính sách đối ngoại của Mỹ?

- Với một Việt Nam năng động, hội nhập như thế, các nước đã đánh giá cao vai trò tích cực của Việt Nam trong khu vực và trong ASEAN, khi đã cam kết thì triển khai thực hiện, chẳng hạn với những mục tiêu xây dựng cộng đồng. Việt Nam có chính sách đối ngoại nhất quán, đóng góp xây dựng,  kết hợp hài hòa lợi ích quốc gia và khu vực, tạo thành nhân tố đoàn kết trong khu vực. Khi Mỹ mở rộng quan hệ với Châu Á và coi ASEAN là một trụ cột ưu tiên của chính sách tăng cường hợp tác với Châu Á, thì Mỹ thấy Việt Nam có vị thế trong ASEAN và khu vực, đây là sự cộng hưởng rất mạnh mẽ cho quan hệ song phương.

* Đại sứ nhận xét gì về vai trò của quan hệ Việt - Mỹ với an ninh khu vực và vấn đề Biển Đông? 

- Ai cũng cần hòa bình ổn định, an ninh an toàn, tự do hàng hải ở Biển Đông, môi trường này rất quan trọng cho sự phát triển bền vững của khu vực. Việt Nam, ASEAN, Mỹ hay bất kỳ quốc gia nào chia sẻ thì nguyên tắc đó thì đều có vai trò quan trọng. Tôi cho rằng trong việc này, sự đóng góp quan điểm của các nước,  vai trò  tích cực các nước nên thể hiện thông qua việc tạo tiếng nói chung, đoàn kết chung trong ASEAN để vừa bảo đảm môi trường hòa bình ổn định ở đây, vừa đảm bảo các nước tuân thủ  luật pháp quốc tế trong đó có Luật Biển của LHQ, sớm đạt Bộ Quy tắc ứng xử của các bên liên quan trên Biển Đông. Nếu mỗi quốc gia trong khu vực  đảm bảo nguyên tắc đó, dựa trên nguyên tắc đó, đảm bảo đoàn kết ASEAN, thì đều tạo ra giá trị.

* Xin cảm ơn Đại sứ.