Lyndon B. Johnson

Ông Johnson đến (miền Nam) Việt Nam lần đầu tiên ngày 12.5.1961, lúc ông còn là Phó Tổng thống. Ông đã gặp ông Ngô Đình Diệm và coi ông Diệm như là một Winston Churchill của Châu Á lúc ấy.

Trong cuốn ‘Vietnam: A History’, tác giả Stanley Karnow cho rằng trong cuộc gặp với ông Johnson, ông Diệm đã không mặn mà với ý tưởng đưa lính Mỹ vào miền Nam vì là người nặng chủ nghĩa dân tộc, ông không muốn sự hiện diện quá đông của quân Mỹ trên đất nước mình.

Sau khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát ngày 22.11.1963, ông Johnson lên làm tổng thống. Trước đó ba tuần, ông Ngô Đình Diệm cũng bị giết hại. Sau vụ ám sát này, tình hình ở miền Nam càng trở nên phức tạp, tồi tệ, cuộc chiến càng trở nên khốc liệt. Số lượng lính Mỹ ở Việt Nam cũng tăng nhanh.

Vào ngày 25.10.1966, ông Johnson đã bất ngờ tới căn cứ quân sự Cam Ranh chỉ trong vòng hai tiếng rưỡi để thăm hỏi, cảm ơn và động viên lính Mỹ.

Ông đến Việt Nam từ Manila, nơi ông có hội nghị với lãnh đạo nước đồng minh (Australia, Phililippines, Thái Lan, New Zealand, Hàn Quốc và Nam Việt Nam). Tại đó Mỹ và những nước này hứa sẽ rút quân khỏi miền Nam trong sáu tháng nếu miền Bắc Việt Nam cũng hoàn toàn rút lực lượng của mình khỏi Miền Nam.

Ông Johnson sang Việt Nam lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng trên cương vị tổng thống khi ông tới Cam Ranh ngày 23.12.1967.

Khi ông Johnson lên làm tổng thống năm 1963, số lính Mỹ ở Việt Nam chỉ có 16.000. Nhưng bốn năm sau con số ấy đã lên hơn 500.000. Tuy vậy, vào giữa mùa thu năm 1967, ông đã biết cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam rất khó thành công. Và chuyến đi này cũng không làm ông thay đổi suy nghĩ đó.

Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, phong trào phản chiến ở Mỹ lan rộng, uy tín của ông Johnson sụt giảm. Dù ông vẫn được quyền tái cử, ông Johnson đã quyết định không tranh cử chức tổng thống năm 1968.

Richard Nixon

Ông Richard Nixon là người có khá nhiều liên hệ với (cuộc chiến) Việt Nam. Theo một số tài liệu ông Nixon đã đến Việt Nam bảy lần trước khi lên làm tổng thống. Một trong những lần đó là vào tháng 10.1953, khi ông sang thăm ba nước Đông Dương và ghé Sài Gòn và Hà Nội. Đây cũng là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của ông với tư cách là Phó Tổng thống.

 Tổng thống Richard Nixon, ngày 30.4.1970, thông báo quân Mỹ sẽ vào Campuchia.
Ông cũng sang Sài Gòn vào tháng Bảy năm 1956 và gặp ông Ngô Đình Diệm. Lần đầu tiên và cũng là duy nhất ông Nixon sang miền Nam trên cương vị tổng thống là vào tháng Bảy năm 1969 khi ông công du tới một số nước, lãnh thổ Châu Á, trong đó có đảo Guam.

Trong chuyến thăm kéo dài chỉ 5 giờ rưỡi không được sắp đặt trước vào ngày 30.7, ông đã gặp Nguyễn Văn Thiệu để bàn việc rút thêm lính Mỹ khỏi miền Nam. Ông cũng gặp các chỉ huy quân sự của Mỹ để trao đổi những thay đổi về chiến thuật của Mỹ.

Trước đó, vào ngày 25.7, khi thăm đảo Guam, ông đã công bố Học thuyết Nixon (hay còn được gọi Học thuyết Guam). Điểm chính yếu của học thuyết này là Mỹ chỉ giúp bảo vệ và phát triển các nước đồng minh. Nhưng các quốc gia này phải có trách nhiệm tự quyết định, bảo đảm an ninh của mình.

‘Việt Nam hóa’ chiến tranh - theo đó lính Mỹ sẽ dần dần rút khỏi miền Nam và được thay thế bằng quân đội miền Nam - cũng xuất phát từ học thuyết này.

Bill Clinton

Tổng thống Clinton là người quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Năm 2000, ông Clinton đã sang thăm Việt Nam (từ 16-19.11). Đây cũng là lần đầu tiên một tổng thống Mỹ tới Việt Nam kể từ năm 1969.

Chuyến đi lịch sử này vừa giúp hai cựu thù hàn gắn những vết thương, nghi ngờ chiến tranh để lại. Nó vừa giúp hai bên phát triển, đẩy mạnh quan hệ song phương trên nhiều lĩnh vực.

Chẳng hạn, theo số liệu Tổng cục thống kê Việt Nam, năm 1995, thương mại giữa hai nước chỉ 200 triệu USD. Năm 2015, con số ấy lên tới 43.5 tỷ USD.

Quan hệ Việt-Mỹ chắc chắn sẽ không phát triển, gần gũi, thân thiện như hôm nay nếu như ông Clinton không dám mạnh dạn bỏ lệnh cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam hơn 20 năm trước.

Phát biểu dịp kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt tại Hà Nội, ông đã nói việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là một trong những thành công quan trọng nhất trong hai nhiệm kỳ tổng thống của ông.

Sau chuyến thăm lịch sử năm 2000, cựu Tổng thống Clinton cũng đã nhiều lần sang Việt Nam.

George W. Bush

Tổng thống Bush thăm Việt Nam từ ngày 17-20.11.2006. So với chuyến thăm của ông Clinton năm 2000, chuyến đi này ít quan trọng, ý nghĩa hơn. Ông Bush đến Việt Nam năm đó cũng để tham dự Hội nghị thượng đỉnh APEC.

 Tổng thống Bush tại TP. HCM ngày 20.11.2006.
Nhưng ông Bush cũng rất ngạc nhiên, vui mừng về sự cởi mở, thân thiện, trẻ trung, năng động mà ông chứng kiến trong những ngày ở Việt Nam.

Có thể so với Tổng thống Clinton, ông Bush không có tác động nhiều lên quan hệ Mỹ-Việt. Nhưng ông cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới năm đó.

Barack Obama

Chuyến thăm Việt Nam sắp tới (23-25.5) của Tổng thống Barack Obama có thể là chuyến thăm được bàn và chờ đợi nhiều nhất.

Dưới thời ông, quan hệ Mỹ-Việt đã được cải thiện trên tất cả mọi lĩnh vực – từ chính trị, quốc phòng đến kinh tế, giáo dục.

Ông cũng chính là người khởi xướng chính sách xoay trục sang Châu Á của Mỹ. Trong hơn bảy năm qua, ông Obama đã đến thăm hầu hết các nước trong vùng - trong đó có nhiều nước đến hai lần, như Indonesia (2010, 2011), Myanmar (2012, 2014), Malaysia (2014, 2015) và Philippines (2014, 2015).

Dự kiến, trong chuyến thăm, ông Obama sẽ thảo luận một loạt vấn đề với lãnh đạo Việt Nam, như tăng cường hợp tác song phương, hợp tác an ninh, TPP, giáo dục, và có thể cả việc Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam.