Tiềm năng chỉ là một lời hứa. Hơn hai chục triệu người dân có  kiến thức, kỹ năng, có đầu óc sáng tạo và nền tảng đạo đức sẽ làm cho kinh tế phát triển vượt bậc và đất nước thịnh vượng, hùng cường. Nhưng hơn hai chục triệu người đó cũng có thể trở thành những vấn đề xã hội nan giải, nếu như họ chỉ học được những thứ lỗi thời, hoặc những điều xa xỉ của “nghệ thuật giết rồng”. Có vẻ như lời hứa và sự thất hứa đều là những khả năng chưa thể loại trừ.

Nhân năm học mới và nhân việc năng suất lao động ở nước ta bị đánh giá thuộc số 10% thấp nhất của khu vực, cần nghiêm túc nhìn nhận những vấn đề đang được đặt ra ở tầm triết lý đối với hệ thống giáo dục.

Một là, vấn đề về tính mở và sự liên thông của hệ thống giáo dục. Một hệ thống mở và liên thông là điều kiện tiên quyết để huy động các nguồn lực, cũng như các lực lượng xã hội vào sự nghiệp giáo dục. Tại sao ở Mỹ, ở Thái Lan trẻ em có thể học ở nhà mà vẫn có thể thi được vào đại học, còn ở ta không học mẫu giáo thì khó lòng vào được lớp một?

Tính mở còn giúp cho các tư tưởng và thành tựu mới có thể nhanh chóng được áp dụng trong hệ thống. Một chương trình giảng dạy được đề ra, được soạn thành sách giáo khoa, được phê duyệt sẽ phải mất nhiều năm trời. Khi được phê duyệt, rất nhiều điều đã có thể trở nên lạc hậu và sự lạc hậu như vậy sẽ được duy trì không biết đến bao lâu! Phải chăng, việc dành quyền chủ động nhiều hơn cho các giáo viên, đặc biệt là các giảng viên đại học mà các nước tiên tiến đang làm là hợp lý hơn? Hai là, tính linh hoạt của hệ thống giáo dục. Tính linh hoạt là khả năng của hệ thống thay đổi liên tục để thích nghi với điều kiện mới. Đây là nền tảng để việc dạy và việc học bao giờ cũng có ích và cũng phù hợp. Tuy nhiên, một hệ thống giáo dục mang nặng tính đẳng cấp và tập quyền sẽ khó lòng bảo đảm được điều này. Ngược lại, việc dành quyền chủ động nhiều hơn cho các nhà trường, các thầy, cô giáo sẽ làm cho hệ thống linh hoạt hơn.

Ba là, tính thiết thực của hệ thống giáo dục. Tính thiết thực được đo bằng thị trường lao động. Mọi sự khá, giỏi đều chỉ có nghĩa khi đó là cái mà thị trường cần. Vì vậy, chất lượng giáo dục nên được  đo  bằng tỉ lệ học sinh tốt nghiệp xin được việc làm (hoặc tạo ra việc làm) và mức tiền lương mà thị trường trả cho những việc làm đó hơn là tỉ lệ khá giỏi theo như cách đánh giá hiện nay.

Cuối cùng, tạo động lực cho việc dạy thật và học thật là rất quan trọng. Muốn vậy, người giỏi hơn thì phải được đánh giá đúng và phải được trọng dụng, được khen thưởng xứng đáng. Những người này cũng cần được đánh giá theo thị trường, chứ không chỉ theo bản báo cáo thành tích hoặc theo cách chấm điểm như hiện nay.