Mặc dù lý thuyết “bộ ba bất khả thi” của hai nhà khoa học được  giải Nobel Robert Mundel và Marcus Fleming hơi khác với  “bộ ba bất khả thi” của Thống đốc một ít. Hai nhà khoa học trên nói về sự bất khả thi của việc thực hiện đồng thời ba chính sách: 1. Ổn định tỉ giá; 2. Tự do hoá dòng vốn; 3. Chính sách tiền tệ độc lập. Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói về sự bất khả thi của việc thực hiện đồng thời ba chính sách: 1. Tăng trưởng cao; 2. Lạm phát thấp; 3. Tỉ giá ổn định. Có thể sự lệch pha này chỉ là một kiểu vận dụng sáng tạo học thuyết của thế giới vào điều kiện cụ thể của Việt Nam chăng?

Lý thuyết “bộ ba bất khả thi” của hai ông Mundel và Fleming thì đã được thực tế của các nước trên thế giới và kể cả của Việt Nam chứng minh là hoàn toàn chính xác.  Thế nhưng, lý thuyết “bộ ba bất khả thi” của Thống đốc thì lại chưa được thực tế của ngay chính Việt Nam ta khẳng định. Đơn giản là vì trong nhiệm kỳ của một vài thống đốc Ngân hàng Nhà nước trước đây, đất nước ta đã từng vừa có tăng trưởng cao, vừa có lạm phát thấp, vừa có tỉ giá khá ổn định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, tăng trưởng cao và lạm phát thấp có vẻ thường xuyên xung đột với nhau. Muốn tăng trưởng cao thì khó lòng giữ được lạm phát thấp. Muốn giữ được lạm phát thấp thì khó lòng đạt được tăng trưởng cao. Điều này đặc biệt đúng với một đất nước mà tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư như đất nước ta.

Trong phiên trả lời chất vấn của các vị ĐBQH ngày 13.11 vừa qua, Thống đốc đã tế nhị phát đi thông điệp là ông xứng đáng được nhận nửa giải thưởng Nobel vì đã giải quyết được hai chính sách trong “bộ ba bất khả thi”. Đó là lạm phát thấp và tỉ giá ổn định. Rõ ràng, không thể phủ nhận vai trò của Thống đốc trong việc chống lạm phát và ổn định tỉ giá. Tuy nhiên, vai trò của Thống đốc và vai trò của Chính phủ ở đây chưa biết ai đã quan trọng hơn ai. Trong bất cứ trường hợp nào, nếu chúng ta có một nửa giải thưởng Nobel để tặng, thì phần lớn của một nửa giải thưởng này phải được tặng cho Chính phủ thì mới công bằng.

Công lao của Thống đốc sẽ được xác định dễ dàng hơn nếu ông làm được những việc sau đây: 1.  Chấm dứt tình trạng nhập nhèm giữa độc quyền của Nhà nước với độc quyền của doanh nghiệp trong việc sử dụng thương hiệu  và sản xuất vàng miếng; 2. Bảo đảm cho người dân thực thi được quyền tự do tài sản của họ đối với vàng một cách an toàn, dễ dàng và ít tốn kém nhất; 3. Giải quyết được tình trạng nợ xấu đang ngày càng trầm trọng của các ngân hàng; 4.  Bảo đảm một môi trường hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng, không để chuyện “cá bé nuốt cá lớn” lại có cơ hội xảy ra.