Với ximăng, tuy không nêu cụ thể nhưng đối với các dự án do Trung Quốc làm tổng thầu (trong tổng số 24 dự án), tỉ lệ nội địa hóa được xác định là 0%. Số liệu của Ủy ban Tài chính và Ngân sách Quốc hội công bố trước đây cũng cho thấy, tính đến 2010, có đến 90% các dự án tổng thầu EPC (tư vấn, thiết kế - cung cấp thiết bị - xây lắp, vận hành; hay nói cách khác là thực hiện dự án theo phương thức chìa khóa trao tay) của Việt Nam do nhà thầu Trung Quốc đảm nhiệm, trong đó chủ yếu là dầu khí, hóa chất, điện, dệt kim. Trong số này, các doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện tới 30 dự án trọng điểm quốc gia, trong đó có nhiều dự án “tỉ đô” của ngành điện”. 

Một lý do được nhiều người nêu ra là quy định đấu thầu của Việt Nam đặt nặng tiêu chuẩn giá và các nhà thầu Trung Quốc chào giá rẻ nên đẩy các nhà thầu khác ra ngoài. Đó là chưa nói đến các dự án do phía Trung Quốc dàn xếp tài chính. 

Liệu giá của các nhà thầu Trung Quốc chào có thật rẻ? Trả lời báo chí nhân có tin trong tình hình căng thẳng ở biển Đông nhà cầm quyền Trung Quốc cấm các nhà thầu của họ tham dự đấu thầu các gói thầu mới ở Việt Nam, Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng bên lề phiên họp Quốc hội ngày 10.6 đã nói không sai rằng “nguồn vốn của Trung Quốc chưa chắc đã phải là rẻ”.

Khái niệm tổng chi phí sở hữu (total cost of ownership - TCO) có thể giúp ta dễ hiểu vấn đề hơn. TCO của một khoản đầu tư (hay một dự án) là tất cả chi phí phát sinh trong quá trình chuẩn bị, khởi động, vận hành dự án trong suốt quá trình sống của nó.
Hãy lấy việc đầu tư một chiếc xe máy làm thí dụ: Đó là chi phí tìm kiếm; mua xe, đăng ký; trong quá trình sử dụng là chi phí xăng, dầu, lệ phí, bảo hiểm, kiểm định, gửi xe, sửa chữa, cả chi phí cơ hội khi xe hỏng không sử dụng được…; chi phí thanh lý chiếc xe (bán, vứt đi…). Tổng tất cả các chi phí ấy là TCO của một xe máy cụ thể. Xe có giá cao nhưng bền, tốn ít xăng có thể là lựa chọn tốt hơn hẳn xe rẻ (vì có thể tốn xăng hơn, hay bị hỏng tốn tiền sửa chữa và làm mất những cơ hội khác…). Như thế giá mua chỉ là một phần (có thể không lớn) của TCO.
Với các dự án mà các nhà thầu Trung Quốc thắng cũng vậy. Giá bỏ thầu chỉ là một phần. Chi phí phát sinh có thể rất lớn, chưa nói đến chất lượng và thiệt hại do sự trục trặc gây ra.
Có thể nêu ra hàng loạt thí dụ.
Dự án đường 5 kéo dài (đoạn cầu Chui - cầu Đông Trù - Phương Trạch - Bắc Thăng Long) với kinh phí dự trù 3.500 tỉ đồng đã được TP. Hà Nội điều chỉnh lên gần gấp đôi (6.600 tỉ đồng), có nhiều nhà thầu Trung Quốc tham gia rồi đã phải rút, gây đình trệ.
Máy biến áp AT-1 của trạm biến áp 500kV Hiệp Hòa bị sự cố ngày 14.5 rồi đến ngày 21.5 biến áp AT-2 cũng trục trặc (đều do nhà thầu Trung Quốc cung cấp) ảnh hưởng đến việc cấp điện của 8 tỉnh ở miền Bắc và đến 9.6 vẫn chưa được khắc phục và những thiệt hại này có thể làm cho TCO của dự án này tăng rất đáng kể.
Người dân ở TP. Hồ Chí Minh mấy năm trước đã rất bức xúc với các lô cốt trên đường do một nhà thầu Trung Quốc dây dưa trong dự án cải tạo hệ thống thoát nước ở đó gây ra.
Còn có thể kể ra nhiều dự án như thế nữa.

Đó là những dự án mới đây. Cũ hơn phải kể đến gang thép Thái Nguyên, phân đạm Hà Bắc và nhiều dự án khác mà tôi nghĩ tổng chi phí sở hữu của chúng quá cao khiến cho chúng không thể cạnh tranh nổi trên thị trường nội địa (nói chi đến thị trường thế giới). 

22 năm trước, công suất của gang thép Thái Nguyên (do Trung Quốc viện trợ) khoảng 100 ngàn tấn/năm, số người làm khoảng 10 ngàn người (so với một nhà máy cùng thời đó ở Nhật có 1.000 người làm tạo ra 1 triệu tấn thép/năm thì chi phí vận hành của Thái Nguyên cao hơn rất nhiều), tuy chi phí đầu tư ban đầu có thể không cao, nhưng TCO có lẽ cao hơn của nhà máy Nhật rất nhiều. 

Cũng theo lời Bộ trưởng Đinh La Thăng: “Hiện tại, Việt Nam có rất nhiều nhà đầu tư của các nước khác nhau chứ không chỉ có Trung Quốc vì Việt Nam được đánh giá là một thị trường tiềm năng, an ninh chính trị ổn định, thu hút được các nhà đầu tư, trong đó có các nhà đầu tư, nhà thầu Trung Quốc. Còn với Việt Nam, việc này không ảnh hưởng gì tới các dự án vì Trung Quốc không tham gia thì đã có các nhà thầu nước ngoài tham gia. Nhà thầu Việt Nam cũng đủ mạnh, đủ lớn để thực hiện các dự án giao thông hiện nay”. 

Hy vọng rằng đó không chỉ là lời khẳng định của riêng ngành GTVT, mà là ý chí và sự khẳng định năng lực của tất cả các ngành trong nước quản lý các công trình mà các doanh nghiệp Trung Quốc đang làm tổng thầu.

Nếu chỉ ham giá rẻ rồi có thể sẽ phải trả giá rất đắt.