Chiều 7.8, chính quyền xã Trà Phong, huyện Tây Trà (Quảng Ngãi) mới đưa được họ về lại làng cũ. Và với Hồ Văn Lang, đây là lần đầu tiên trong 40 năm tuổi đời, anh mới biết được còn có nhiều con người khác giống như mình sống trên trái đất này...

Đạn bom oan nghiệt

Chiều 8.8, khi chúng tôi đến nhà  thân nhân của người rừng ở làng Nga, gặp đúng lúc gia đình đang làm lễ cáo gia tiên về việc đã đưa được cha con ông Thanh về làng. Già Hồ Văn Biên - 68 tuổi, dân tộc Cor, là người em họ của người rừng Hồ Văn Thanh - nhắm nghiền hai mắt, miệng lâm râm khấn vái, rồi bất ngờ hắt chén rượu xuống đất. Chén than hồng rực đỏ, hun mùi gỗ quế thơm lừng, trong làn khói trắng vấn vương, ông Biên phiêu linh như “nối” được với tổ tiên.

Xong phần nghi lễ, ông Biên đưa chén rượu cho Lang uống một hớp. Mặt Lang nhăn nhó, người co rúm lại rồi đưa tay phủi phủi miệng giống hệt động tác khỉ ăn phải ớt. Ông Biên quay sang chúng tôi, nói bằng tiếng Kinh, “bây giờ thì cô dượng tôi (tức cha mẹ người rừng Hồ Văn Thanh) đã được yên lòng nơi suối vàng”. Hớp chén rượu cúng, ông Biên từ từ kể lại câu chuyện ly tán đau buồn của người rừng...

Ông Thanh nguyên gốc người Trà Lãnh, thuộc huyện Trà Bồng, bây giờ là Tây Trà. Từ năm 1959 sơ tán lên xã miền núi cao Trà Khê, rồi chuyển về làng Trà Kem, xã Trà Xinh. Ông Thanh có vợ, sinh được 2 người con thì nhập ngũ, tham gia bộ đội chính quy Quân khu 5. Sau 5-6 năm thì về lại quê, sinh thêm được thêm 2 người con nữa.

Những năm 1970, chiến tranh xảy ra ác liệt, vùng đất cách mạng Tây Trà như túi bom của Mỹ - ngụy. Người chết, làng cháy khắp nơi. Rồi một ngày, khi ông Thanh đi làm rẫy về, chứng kiến cảnh làng mình rực lửa, hố bom chi chít. Toan chạy đi tìm người thân thì hỡi ôi, cả mẹ ruột và 2 đứa con trai đầu của mình đã chết không toàn thây khi bị bom giội sập hầm. Cả 26 người trong căn hầm ấy không ai sống sót.

Đớn đau tột cùng, ông Thanh đãng trí từ đó. Ông Thanh thường có biểu hiện tâm thần, nghe tiếng bom đạn là co rúm người, run lẩy bẩy và chạy trốn. Sống trong buồn đau thêm được thời gian ngắn ở ngôi làng tàn rụi vì bom lửa chiến tranh, ông Thanh đã bồng đứa con thứ 3 bỏ làng đi sâu vào rừng, sống như người tiền sử từ đó.

Ông Thanh đi biệt tích, bỏ lại bà Hồ Thị Phương cùng đứa con út Hồ Văn Tri, lúc ấy mới 5 tháng tuổi. Mòn mỏi chờ chồng con không được, rồi người đàn bà tội nghiệp này phải đi thêm bước nữa. Từ đó, làng  Trà Kem cứ đinh ninh rằng cha con ông Thanh đã chết, có thể do bom đạn hoặc bị thú rừng ăn.

Thiếu cơm, lạt muối

Ông Hồ Minh Lâm - cháu gọi người rừng Hồ Văn Thanh là chú ruột - kể lại, hồi cha ông còn sống, ông đã đi coi thầy và tin chắc rằng người em mình chưa chết. Năm nào ông cũng bỏ công lang thang khắp núi cùng non để tìm em, nhưng rồi vô vọng. Những ngày trước giải phóng, rừng núi Tây Trà còn lọt thỏm giữa Trường Sơn đại ngàn. Nhưng rồi từ sau giải phóng, rừng càng ngày càng suy kiệt, lùi xa dần bản làng.

 Người dân làng Trà Kem phải lấn sâu vào núi để làm rẫy. Trong những lần đi làm rẫy, đốn gỗ, dân làng Trà Kem từng phát hiện người rừng, nhưng do cha con ông Thanh rất sợ người, đã bỏ chạy trốn biệt nên người dân tưởng là khỉ. Đến năm 1999, người dân huyện Trà My, bên Quảng Nam báo với công an về việc bị mất trộm đậu, bắp trên rẫy. Họ nghi là có người rừng phá hại.

Tuy nhiên, khi công an lên điều tra thì cũng chỉ thấy dấu vết chân người... “Câu chuyện đồn đại về người rừng rộ lên rồi cũng nhanh chóng quên lãng. Chỉ có cha tôi thì tin chắc đó là em và cháu mình” - ông Lâm nói.

Trang phục kiểu của người tiền sử của cha con Lang làm mọi người thích thú.

Sau đó, cha con ông Lâm tiếp tục thầm lặng đi tìm em, tìm chú. Thế nhưng mãi đến 2004, 2005 gì đó mới gặp được họ. Ông Lâm nhớ lại khi theo cha vào núi Apon tìm chú, ông Hồ Văn Thanh liên tiếp tránh mặt.

“Cứ nghe tiếng động là cả 2 cha con chú chạy trốn biệt trong rừng sâu” - ông Lâm kể. Mỗi năm, gia đình ông Lâm lên Apon chỉ 2 lần, nhưng cũng chỉ để lại ít muối, gạo, hạt giống bắp, mè rồi lặng lẽ ra về. Phải mất nhiều lần làm quen từ từ, cha con ông Thanh mới tiếp gia đình anh trai mình. Thế nhưng, dù khuyên răn kiểu gì ông Thanh cũng lặng lẽ lắc đầu, không chịu về.

Theo ông Lâm, vì đã sống quá lâu trong rừng, tách biệt với cộng đồng nên ông Thanh gần như quên hết tiếng Kinh. Ngay tiếng của người Cor cũng ít nói. Riêng Hồ Văn Lang, do bị bế đi lúc 2 tuổi, hoàn toàn không biết đến thế giới loài người nên chỉ biết được ít tiếng Cor do cha mình dạy.

 Gần 40 năm ở dưới chân ngọn Apon, họ đã làm nhà trên cây, đập vỏ cây để đan áo, đóng khố. Cuộc sống hoàn toàn dựa vào săn bắt, hái lượm và thời gian sau này là trồng trọt - cha con ông Thanh có thể đã ra rẫy của người dân, bẻ trộm ngô, mè, thuốc lá... về làm giống. Điều kỳ lạ là họ đã sống gần 40 năm hoàn toàn không có hạt muối, thiếu gạo, nhưng vẫn mạnh khỏe bình thường. Họ đã nhặt mảnh bom, vỏ đạn để gò thành soong nồi, tự rèn dao rựa, dùng đá đánh lửa để nấu chín thức ăn.

Với loài người văn minh, khó tin rằng cha con ông Thanh có thể sống như người tiền sử trong suốt thời gian dài như vậy. Nhưng với 2 người rừng này, một người đãng trí, một người “hồn nhiên” như cỏ cây, họ đã có cuộc sống hạnh phúc giữa đại ngàn bao dung.

Ngày về


Ông Lâm nói: “Từ năm 2005 đến nay, mỗi năm tôi đều tranh thủ một chuyến vào núi Apon để thăm cha con chú Thanh, nhưng gia đình cũng khó khăn nên cũng chỉ tiếp tế được ít muối. Hai năm gần đây, tôi lại không vào thăm họ được. Nhưng tuần trước, khi ngủ tôi chiêm bao thấy chú và Lang. Tôi thấy họ sống trong một ngôi nhà có phên đất, có quần áo đường hoàng. Điều kỳ lạ là khi tỉnh lại, giấc chiêm bao ấy cứ lặp lại 3-4 lần trong đêm. Linh tính báo có điềm xấu với chú.

Tôi đã vào núi Apon để thăm họ. Đến nơi, thấy chú Thanh ốm nằm liệt một chỗ, chân không co được. Còn Lang thì chỉ biết co ro ngồi bên cạnh buồi thiu, miệng ú ớ như con thú bị thương. Tôi vội về làng, ra UBND xã xin được hỗ trợ người để vào cáng chú tôi về làng”. Và rạng sáng ngày 7.8, những thanh niên trai tráng làng Nga và quân dân chính xã Trà Phong đã vào núi Apon, đến 11 giờ trưa thì đến nơi và cáng họ về tối 7.8.

Về đến làng, do thay đổi thời tiết đột ngột, nóng hơn ở rừng sâu nên sức khỏe ông Thanh nguy kịch, phải đưa ngay vào bệnh viện huyện. Hơn một ngày, ông Thanh không nói một lời, chẳng ăn miếng cơm nào. Còn Lang như nhân vật Tazan bước ra từ phim, ngơ ngác sợ sệt, có lúc  chạy nhảy, cười ngô nghê...

Tôi nhìn gia sản của cha con người rừng gồm 2 áo, 2 khố vỏ cây, các ống tre đựng hạt giống và bộ nông cụ thô sơ... tất cả cứ như các hiện vật trong bảo tàng. Duy chỉ có bộ đồ lính và chiếc áo len của Lang mặc đi lúc chỉ 2 tuổi được người cha gói cẩn thận bằng lá doong, cất kỹ trên ngôi nhà trên cây là còn mới toanh.

Có lẽ ông Thanh xem đây là 2 kỷ vật để nhắc nhở họ về loài người. Tôi đang miên man nghĩ thì già Hồ Văn Biên đưa cái điện thoại di động đang phát nhạc cho Lang, anh sờ sờ rồi đưa lên nghe.  Không biết tiếng Kinh, nhưng tôi thấy mắt anh lim dim khi điện thoại “hát” bài “Thương nhớ Đà Lạt ơi....”.

Âm nhạc là một “vị thần” có thể cảm hóa, níu kéo vạn vật. Nhưng không biết lúc này âm nhạc có gợi lên trong Lang điều gì sau hơn một ngày trở về lạ lẫm giữa thế giới này?

Bất chợt ánh đèn flash lóe lên, anh vội quay mặt đi chỗ khác. Không biết ánh chớp ấy có phải gợi lên một ngày bão dông nào đó trong rừng, với tiếng hú hoang dã hay không? Nhưng tôi tin rằng, từ đây, cha con anh có thể “rừng hoang ơi vĩnh biệt”.