Ông là Võ Đình Minh, ở tổ 24, khu vực 4, phường Lê Hồng Phong, Quy Nhơn, Bình Định. Nhiều người gọi ông là “vua “độ” xe cho người khuyết tật”; còn với tôi, ông như đại bàng kiêu hãnh, đã và đang sải rộng đôi cánh vượt qua cam khó kiếp người!
Vững tay nạng trên bước đường đời

Sau trận sốt ly bì, đôi chân đang ton tón chạy của đứa trẻ lên 3 không thể nào đứng vững được nữa. Ba mẹ bán mấy mảnh vườn - cả đất lẫn dừa - để chạy chữa cho con. Tiêu tán hết gia sản mà vẫn không thể nào làm biến chuyển đôi chân bại liệt của con, họ chỉ còn có thể nuốt nước mắt thở dài nhìn cuộc đời con gắn với đôi nạng gỗ. Cái “án chung thân” đã “trói” đời Võ Đình Minh như thế. 

Ba Minh làm công nhân đường sắt ở Quy Nhơn, gia sản ở xứ dừa Tam Quan (Hoài Nhơn - Bình Định) đã teo dần cùng đôi chân bại liệt của cậu, cả gia đình phải “trôi” xuống Quy Nhơn tìm kế sinh nhai. Cuộc sống đầy khó khăn nơi đất khách, ba mẹ oằn vai gánh tám đứa con, nên dù ham học, Minh cũng phải khép lại những ước mơ, hoài bão. 

Hết lớp đệ tứ (tương đương lớp 9 bây giờ), Minh vào Sài Gòn học nghề điện tử. Tốt nghiệp loại giỏi đấy, nhưng chẳng cơ sở nào muốn tuyển người thợ chỉ ngồi được một chỗ, trong khi nghề này lại đòi hỏi mang vác, bưng bê. Về Quy Nhơn, được một cơ sở sửa chữa điện tử nhận vào làm thì chưa đầy năm đã mất việc, vì người chủ qua đời trong một tai nạn giao thông.

Vay mượn anh em, bạn bè được chút tiền làm vốn, Minh đi buôn. Ngày ngày, khua nạng gỗ ở ga xép Quy Nhơn, chống nạng lên tàu ra Đà Nẵng; ông buôn bất kể cái gì có thể, miễn là sinh lời. Vẫn không đủ sống, lại chuyển sang làm anh thợ khóa. Dành dụm được một số tiền, ông mở cơ sở gia công suốt chỉ bố lốp xe hơi để làm vệ tinh cho các nhà máy sản xuất lốp xe đạp. 

Công việc đang tiến triển với gần chục lao động khuyết tật có thu nhập ổn định thì đột nhiên bị cạnh tranh bởi các nguyên liệu ngoại nhập, cơ sở gia công bị phá sản. Lại chống nạng, ông quăng mình ra vỉa hè nắng lửa với “nghề” buôn đồng nát và lăn lóc khắp nơi làm anh thợ “đụng” - ai cần sửa chữa gì, làm được là nhận.

Cuộc đời ông Minh ba chìm bảy nổi, cuộn lên cả những sóng gió như tiểu thuyết là thế; song, nghe chất giọng trầm ấm, chậm rãi, có phần dè dặt của ông, tôi có cảm giác: Chính những sóng gió ấy đã bồi đắp cho ông tinh thần thép, ý chí thép; những sóng gió ấy vừa hãi hùng, vừa như... chẳng là gì cả! Với nụ cười hiền, ấm, và trong, ông tâm sự rất thật rằng đời mình đã bị “trói” vào đôi nạng, nhưng không vì thế mà mình không lăn vào cuộc mưu sinh như bất kể người lành lặn nào. Và cuộc đời ông thay đổi từ khi “độ” thành công cái xe chạy được cả... số lùi đầu tiên.
Như nam châm “hút” những người đồng cảnh
Cái xe mà ông “độ” đầu tiên ấy, là do nhu cầu của chính bản thân. Khi ông xây dựng gia đình, rồi có con, cuộc sống càng bận rộn. Đến lúc con lớn, “muốn tự mình đưa đón con đến trường”, ông bàn với vợ bán đôi nhẫn cưới mua cái xe máy đồng nát hiệu Busch. Còn dư ít tiền, ông mua sắt thép nhờ mấy người bạn hàn xì “độ” lại. “Đi được liền nhưng nó không được ngon, khi chạy thì chao ơi là xóc. Nó chỉ xứng đáng là cái máy có gắn hệ thống chuyển động” - ông Minh nhớ lại.
Nhà ông trong hẻm nhỏ, không thể nào quay đầu được cái xe nếu không có người giúp. Chính điều bất tiện đó đã khiến con ông nhiều lần trễ học. Ánh mắt và nét mặt buồn bã của con khiến trong đầu ông láy đi láy lại một câu hỏi: “Sao không làm số lùi để quay đầu xe?...”. Ông đi mua một bộ hộp số đồng nát, về “bổ” nó ra rồi “à” lên một tiếng, “nhông đang chạy tới, mình ráp một cái thì nó chạy lui, khi cần thì tháo lắp nó bằng cái cần gạt qua, gạt lại”. Nói thì có vẻ... xong rồi đấy, nhưng để biến nó thành thực tiễn lại là cả một câu chuyện dài. Suốt cả tháng trời, đêm nào ông cũng nói bà xã pha cho một bình trà đặc. Nhà vỏn vẹn 12m2, đêm nào bà xã mở mắt cũng thấy chồng chong đèn bên bản vẽ. Đêm đầu tiên, bà còn hốt hoảng không biết ông làm gì mà hai tay xoay xoay, miệng lẩm bẩm “chạy tới, chạy lui”, khói thuốc thì cứ mịt mù.
Bản vẽ chi tiết hoàn thành sau cả tháng trời đêm đêm đốt thuốc lá, uống trà đặc, “múa may” như phù thủy. Xong bản vẽ thì đến linh kiện; hai nhông phải đồng đều ổ bi, phải có khoảng cách tâm bằng nhau; rồi làm hai trục đối xứng bằng nhau nữa thì mới gạt tới gạt lui được. Lại vài ngày lệt rệt bên “núi” phế liệu ông mới tìm ra phụ tùng tương thích. Hôm “chú chở con ra sân bay Quy Nhơn chạy thử, cái sân bay cũ khi ấy là bãi đậu xe tải, tập trung khá nhiều tài xế và cả thợ sửa xe, dễ đến ba chục người ấy. Thấy có cái xe cà tàng tróc trước, tróc sau chạy tới chạy lui, họ từ xe tải nhảy chóc chóc xuống hỏi sao lại chạy lui được hay thế. Họ hỏi han nhiều lắm, nhưng chú chỉ cười thôi”.
Cái xe “chạy tới, chạy lui” của ông ngang dọc khắp Quy Nhơn, nó như thỏi nam châm vô hình “hút” nhiều người khuyết tật khác ra khỏi cái mai rùa cố hữu. Khi họ tìm đến ông nhờ “độ” xe, ông mới giật mình: Hóa ra cái thành phố bé nhỏ này cũng có đến là nhiều những số phận thiệt thòi. Nhưng sao bấy lâu nay ông không thấy họ? Họ ở đâu suốt mấy chục năm qua? Rồi cũng rất nhanh, từ những tâm sự, ông hiểu rằng họ mặc cảm, họ thu mình lại với đời sống bên ngoài, họ thêm tự ti vì đói nghèo, phải nương nhờ vào sự cưu mang, trợ giúp của anh em, xóm giềng. Ông thấy lòng mình chùng xuống, những ý nghĩ trong đầu cứ miên man; và ông quyết định phải làm điều gì đó cho những phận người “lĩnh án trời ban” như mình.
Trên nghị lực là gì?
Hằng ngày, ông nhận đơn đặt hàng “độ” xe cho người khuyết tật - cái việc giống như người thợ may, phải tùy vào đặc điểm khuyết tật của từng người để “độ” sao cho phù hợp; vừa cần mẫn “độ”, “chế” cho khách, vừa mướt mải mồ hôi “truyền nghề” cho những người cùng cảnh thiệt thòi như mình. Ai có nhu cầu học, ông nhận hết, vừa học vừa có lương. Ai thành nghề rồi, ở lại thì ông trả lương thợ chính, ai muốn “bay đi” ông cũng ủng hộ. Vừa làm thầy, vừa làm thợ, vừa duy trì hoạt động của hội khuyết tật... Ông lúc nào cũng bận rộn, lên thời gian biểu cho từng ngày, từng giờ cụ thể; đến độ sự gõ cửa đường đột của tôi, dù chỉ 30 phút thôi cũng đã làm “gãy” cả chuỗi công việc của ông. Ông bảo, cho đến bây giờ chú vẫn là gã đồng nát, vẫn là anh thợ “đụng” thôi; chỉ có điều, chú cảm thấy cái anh thợ “đụng” bây giờ “đụng” được những thứ có ý nghĩa hơn xưa nhiều lắm.
Tôi leo lên chiếc xe “chạy tới, chạy lui”, ông dặn dò đầy trìu mến: “Con cứ... bình tĩnh nghe, nó đảo qua đảo lại cũng đừng có sợ”. Tôi long rong cùng ông đi khắp thành phố - cũng là cùng tham dự vào cái thời gian biểu ngày nào cũng kín đặc của ông. Tâm sự với tôi như con cháu trong nhà, ông nói: “Người lành mà làm việc quần quật suốt cả cuộc đời, sức khỏe còn không tốt nữa là người như chú. Cái cơ thể chú, chú đã nghe nó rệu rã lắm rồi. Nên nếu nói là nghị lực, là chiến đấu thì cũng chưa đủ lắm đâu, mà chính xác là chú đang “giành giật” từng ngày để được sống, được cống hiến...”.
Ông Minh nói làm tôi nhớ lần thứ hai gặp ông ở Hà Nội, khi ông ra tham dự chương trình “Tỏa sáng nghị lực Việt” cùng hơn hai mươi tấm gương vượt lên số phận điển hình. Trong đêm gala, khi giao lưu với Nick Vujicic, ông đã hỏi Nick rằng: “Người Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi vì chiến tranh, người khuyết tật ở Việt Nam cũng rất nhiều. Chúng tôi sống bằng nghị lực, nhưng trên nghị lực là gì?”. Nick khó trả lời, bảo chưa từng nghe ai hỏi điều gì tương tự. Nick im lặng một lúc rồi trả lời - và câu trả lời ấy cũng là khẳng định của chú - điều giá trị hơn cả nghị lực là niềm tin, niềm tin để thành công và để sống”. Hôm ấy, tôi đã gặp một nụ cười khác của Võ Đình Minh...
Lời bình:
Nhân vật trong phóng sự không quá nổi bật, không quá đặc biệt, song gần đạt đến độ “nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”. Ở một đất nước qua chiến tranh có hàng triệu người khuyết tật, phần lớn họ chui sâu vào lớp vỏ tự ti, đến nỗi tác giả phải thốt lên hỏi: “Họ đã ở đâu suốt mấy chục năm qua?”, sự “ra đời” của người đàn ông tàn tật có tên Võ Đình Minh với nghị lực phi thường đã thực sự như một thỏi nam châm “hút” những người cùng cảnh ngộ, giúp họ, cùng họ vượt lên số phận, dù “thành tích” đáng nể nhất của Minh chỉ là “độ” những chiếc xe dành cho người khuyết tật có thể “chạy tới, chạy lui (có số lùi)”...
Bài viết có cấu trúc đẹp, diễn đạt hanh thông, thảng hoặc có những đoạn đọc rất thích bởi cách dùng từ trau chuốt của tác giả, ví dụ: “Sau trận sốt ly bì, đôi chân đang ton tón chạy của đứa trẻ lên 3 không thể nào đứng vững được nữa”. Rốt cuộc thì người đàn ông đó đã “đứng vững”, dù không phải trên đôi chân tàn tật, mà “như con đại bàng kiêu hãnh, chúng ta phải thức dậy từ những nỗi đau và đáp trả một cách cao thượng những thử thách ghê gớm của số phận” - câu “slogan” của Minh.
Xuân Quang