Vì sao ông Việt kiều làm đơn phản ứng Chủ tịch Hội luật gia VN?

Sau khi TAND Tối cao ra quyết định kháng nghị đề nghị xét xử giám đốc thẩm hủy cả 2 bản án mà ông Đặng Đình Thịnh thắng kiện hơn 54 tỷ đồng, thì Chủ tịch Hội luật gia VN có văn bản đề nghị giữ nguyên bản án tuyên buộc bà Khanh, ông Quang trả hơn 54 tỷ đồng hứa thưởng cho ông Thịnh. Phóng viên liên hệ với người đại diện của ông Quang tại Việt Nam, thì được biết từ nước ngoài, ông Quang đã gửi đơn phản ánh đến Chánh án TAND Tối cao, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao, Chủ tịch Hội luật gia VN, Ban kiểm tra Hội Luật gia VN… cho rằng: “Chủ tịch Hội luật gia VN có dấu hiệu can thiệp, bảo vệ cho luật gia Đặng Đình Thịnh, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật tại TPHCM”.

Theo đơn ông Quang trình bày: “Căn nhà 446 – 448 Nguyễn Thị Minh Khai, P.5, Q.3, TPHCM thuộc sở hữu của cha mẹ tôi là bà Khanh và ông Kha. Năm 1980, gia đình tôi sang Pháp, nên làm giấy ủy quyền quản lý, sử dụng cho ông Phan Bình. Năm 1999, UBND TPHCM ra quyết định xác lập nhà của nhà nước, lý do vắng chủ. Gia đình tôi đã khiếu nại nhiều lần xin trả lại nhà. Trong quá trình xin trả lại nhà, vì tin tưởng vào ý nghĩa tốt đẹp của Trung tâm thông tin tư vấn pháp luật Tân Việt – Hội luật gia VN, tôi đã đến gặp xin tư vấn về việc xin trả lại nhà. Ông Đặng Đình Thịnh, Chánh văn phòng và là luật gia Hội luật gia VN, đã hứa hẹn giúp đỡ tôi và yêu cầu mẹ tôi là bà Khanh và tôi ký kết hợp đồng hứa thưởng cho cá nhân ông Thịnh để ông Thịnh đi đòi nhà. Theo đó, nếu đòi được nhà thì tôi và mẹ tôi phải trả thưởng cho ông Thịnh. Vì không hiểu biết pháp luật, vì tin tưởng vào Trung tâm này nên tôi đã ký thỏa thuận này với ông Thịnh. Sau đó, do sự việc kéo dài nhưng không có kết quả gì, nên năm 2010, tôi phải hồi hương để tự tìm hiểu và làm việc với cơ quan chức năng để xin trả lại nhà… Tôi đã nhiều lần tự làm văn bản và tiến hành các thủ tục để xin lại nhà và đồng thời thông báo chấm dứt thỏa thuận hứa thưởng gửi cho ông Thịnh. Mặc dù trước đó tôi đã thanh toán cho ông Thịnh số tiền gần 7 tỷ đồng. Sau khi tôi đi đòi được căn nhà này, tôi đã bán cho bà Đặng Thu Hà, ông Vũ Huy Hoàng và nhận tiền đặt cọc. Với khởi kiện của ông Thịnh đòi tiền hứa thưởng, tôi và gia đình không đồng ý”.

Vì sao ông Chủ tịch Hội luật gia VN – Nguyễn Văn Quyền lại có văn bản đứng tên Hội Luật gia VN đề nghị giữ nguyên bản án đã tuyên ông Thịnh được trả số tiền hơn 54 tỷ đồng? Ông Thịnh là luật gia của Hội Luật gia VN, làm đơn khiếu nại lên Hội Luật gia VN, ông Quyền là Chủ tịch Hội Luật gia VN đã ra văn bản kiến nghị giữ nguyên bản án tuyên ông Thịnh thắng kiện hơn 54 tỷ đồng. Về vấn đề này, ông Quang phản ứng: “Tôi rất bất bình vì ông Chủ tịch Hội luật gia VN lấy tư cách gì để kiến nghị, ông không hề trực tiếp tham gia vụ án, không nghiên cứu hồ sơ đầy đủ, không tham gia trực tiếp phiên tòa… vậy có dấu hiệu gì ở đây khi ông Chủ tịch Hội luật gia VN kiến nghị giữ nguyên bản án tuyên Đặng Đình Thịnh được trả hơn 54 tỷ đồng?”.

 

Vì sao 2 bản án ông Thịnh thắng kiện bị kháng nghị… hủy?

Diễn biến mới nhất về vụ kiện đòi tiền hứa thưởng, theo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của TAND Tối cao số 33/2017/KN-DS: “Đề nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 116/2015/DS-ST ngày 3.2.2015 của TAND TPHCM; giao hồ sơ vụ án cho TAND TPHCM xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật”.

Cũng theo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của TAND Tối cao, ông Thịnh khởi kiện yêu cầu bà Khanh, ông Quang trả 35% giá trị nhà đất 446 – 448 Nguyễn Thị Minh Khai. Hợp đồng hứa thưởng ngày 3.1.2007, bà Khanh, ông Quang sẽ trả cho ông Thịnh 15%. Và “Thỏa thuận hứa thưởng” ngày 28.11.2008, mà cả TAND TPHCM và TAND cấp cao tại TPHCM tại 2 bản án sơ và phúc thẩm đều lấy làm cơ sở tuyên án cho ông Thịnh được hơn 54 tỷ đồng, thì theo TAND Tối cao xét thấy: “Thỏa thuận hứa thưởng ngày 28.11.2008, ký tại Califonia – Mỹ… tăng phần thưởng, số tiền thù lao là 35%... nhưng không được hợp pháp hóa lãnh sự của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam”.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Khanh chỉ thừa nhận bà có ký hợp đồng hứa thưởng ngày 3.1.2007 tại TPHCM với ông Thịnh thỏa thuận mức thưởng là 15% giá trị nhà đất được trả, còn các thỏa thuận ký sau đó tại Mỹ về tăng mức thưởng do ông Thịnh xuất trình tại tòa, thì bà Khanh không ký. Còn ông Quang khai chỉ đồng ý trả cho ông Thịnh tiền công sức dựa trên những chi phí hợp lý mà ông Thịnh chứng minh được. “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét xác định có đúng bà Khanh, ông Quang ký các thỏa thuận nêu trên hay không, nhưng cả 2 tòa sơ và phúc thẩm căn cứ vào “Thỏa thuận hứa thưởng” ký ngày 28.11.2008 tại Califonia – Mỹ, không được hợp pháp hóa lãnh sự để buộc bà Khanh, ông Quang trả cho ông Thịnh hơn 54 tỷ đồng tương đương 35% giá trị nhà, đất là không đúng quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011”, TAND Tối cao nhận xét như vậy.

Ngoài ra, tại Quyết định giám đốc thẩm của TAND Tối cao, còn nêu ngôi nhà có nguồn gốc của vợ chồng bà Khanh, chồng bà Khanh đã mất, hai cụ có đến 9 người con. Nhưng thỏa thuận hứa thưởng chỉ có bà Khanh và ông Quang ký, còn 8 người con còn lại không ký. Do đó, trường hợp này cần hỏi ý kiến 8 người con còn lại về việc đồng ý trả thưởng cho ông Thịnh như thế nào, từ đó mới đủ căn cứ giải quyết vụ án.

“Hứa thưởng” không hợp pháp hóa lại làm cơ sở tuyên án là không đúng

Theo bản án 116/2015/DS-ST ngày 3.2.2015 của TAND TPHCM, do bà Vũ Thị Xuân Trang (thẩm phán, chủ tọa phiên tòa tuyên): Đơn khởi kiện của ông Đặng Đình Thịnh, vào năm 2006, bà Vương Thị Khanh và ông Nguyễn Đắc Quang (con trai bà Khanh) đã nhờ ông tiến hành các thủ tục đòi lại nhà. Ông Quang, bà Khanh lập “Hợp đồng hứa thưởng" cho ông Thịnh 15% trên tổng giá trị nhà đất khi đòi được nhà. Ông Thịnh cũng trình bày sau đó tăng dần “hứa thưởng” cho đến ngày 28.11.2008 hứa thưởng thành 35% tổng giá trị nhà đất khi đòi được nhà.

Tại tòa sơ thẩm, phía bị đơn đại diện cho bà Khanh cho rằng: “Ông Kha, bà Khanh, có với nhau 9 người con, ông Kha mất từ năm 2004 tại Mỹ, do vậy bà Khanh không có quyền lấy giá trị tài sản chung để trả thưởng cho ông Thịnh khi chưa được sự đồng thuận của các đồng thừa kế”. Trình bày tại tòa, đại diện của bà Khanh cũng cho rằng ngày 3.1.2007, bà Khanh và ông Quang có lập hợp đồng hứa thưởng trả thù lao cho ông Thịnh 15%, còn lại các hợp đồng khác bà Khanh không ký với ông Thịnh.

Người đại diện cho ông Quang, là ông Nguyễn Hồng Tản trình bày: “Ông Quang, bà Khanh có ký hợp đồng hứa thưởng với ông Thịnh. Tuy nhiên, do công việc ông Thịnh làm không hiệu quả nên bà Khanh, ông Quang đã chấm dứt hợp đồng hứa thưởng trước khi có kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền trả nhà. Do vậy, công sức của ông Thịnh bỏ ra, sẽ được ông Quang trả dựa trên những chi phí hợp lý mà ông Thịnh chứng minh được”.

Tòa sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu của ông Thịnh, tức là công nhận hứa thưởng ngày 28.11.2008 (35% giá trị nhà đất) buộc bà Khanh, ông Quang phải trả cho ông Thịnh số tiền hơn 54 tỷ đồng. Theo TAND Tối cao, thì “Thỏa thuận hứa thưởng” này không được hợp pháp hóa lãnh sự để buộc bà Khanh, ông Quang trả cho ông Thịnh hơn 54 tỷ đồng tương đương 35% giá trị nhà, đất nên không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Do bản án sơ thẩm bị kháng nghị, kháng cáo, ngày 6.5.2016, TAND cấp cao tại TPHCM đã tuyên bản án phúc thẩm số 87/2016/DS-PT, do bà Mai Thị Tú Oanh thẩm phán, chủ tọa phiên tòa đã tuyên y án như bản án sơ thẩm với phần tiền hứa thưởng cho ông Đặng Đình Thịnh. Tuy nhiên, ngày 15.5.2017, TAND Tối cao đã có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với cả 2 bản án sơ thẩm, phúc thẩm và đề nghị hủy cả 2 bản án mà ông Đặng Đình Thịnh được tuyên là nhận số tiền hơn 54 tỷ đồng… tiền “hứa thưởng” như nêu trên. 

Theo TAND Tối cao về tố tụng: Đây là vụ án có nhiều quan hệ tranh chấp liên quan cùng ngôi nhà 446 – 448 Nguyễn Thị Minh Khai, gồm tranh chấp giữa gia đình bà Khanh, ông Quang đã bán nhà cho bà Đặng Thu Hà, hợp đồng nhận cọc bán nhà cho ông Vũ Huy Hoàng, hợp đồng cho thuê nhà với Ngân hàng Á Châu, hứa thưởng với ông Thịnh, tranh chấp giữa các thành viên gia đình bà Khanh về quyền sở hữu nhà. Trường hợp này phải giải quyết đồng thời các quan hệ tranh chấp trong cùng một vụ án thì mới đảm bảo quyền lợi của các đương sự và đảm bảo đúng quy định tại Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).