<?> Thưa ông, việc dự báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm hiện nay của ngành khí tượng thủy văn nước gặp những khó khăn gì?

- Khó khăn thì nhiều, cả khách quan lẫn chủ quan. Mỗi một hiện tượng thời tiết có một đặc thù riêng và chi phối trực tiếp đến khả năng dự báo của ngành.

Ví dụ, dự báo lũ là tính toán trước khả năng của lũ sẽ xảy ra trong tương lai với thời gian báo trước không quá 2 ngày (riêng ĐBSCL không quá 5 ngày). Dự báo bản tin hạn vừa có thể dự báo trước 5 ngày trong mùa lũ và 10 ngày trong mùa cạn. Nhìn chung, khả năng dự báo, cảnh báo lũ vẫn chưa thể nâng cao được chất lượng dự báo cũng như kéo dài thời gian dự kiến trong dự báo lũ.

Nguyên nhân là mạng lưới trạm khí tượng thủy văn còn quá thưa và chưa đồng bộ, nhất là ở vùng núi, khu vực trung bộ, chủ yếu chỉ là các trạm quan trắc thủ công. Hệ thống trạm tự động rất ít nên chưa thu được số liệu thời gian thực, tự động làm hạn chế việc áp dụng các công nghệ dự báo hiện đại.

Ngoài ra, hệ thống thông tin liên lạc chưa đảm bảo khi mưa bão, lũ lớn xảy ra. Dự báo định lượng mưa cũng còn hạn chế.

<?> Một trong những hiện tượng thời tiết được nhiều người dân quan tâm là dự báo về bão. Ông có nhận định gì về khả năng dự báo bão hiện nay?

- Việc dự báo bão ngày càng gặp nhiều khó khăn, xuất phát từ hai phía khách quan và chủ quan. Về khách quan, có thể khẳng định là các cơn bão vào biển Đông ngày càng trở nên phức tạp hơn do có sự giằng xé giữa các hiện tượng thời tiết, gây khó khăn cho việc dự báo. Sự hình thành bão thường bất thường, bão trái mùa xảy đến nhiều hơn và hướng di chuyển rất nhiều đột ngột.

Còn về chủ quan, một trong những hạn chế của ngành khí tượng nước ta so với khả năng dự báo của các đài khí tượng nước bạn là ngoài các đài ở đảo, nước ta hiện không có hệ thống quan trắc trên biển (các trạm phao). Điều này khiến tỉ lệ chính xác trong các bản tin dự báo bão hạn chế hơn.

Ở Hàn Quốc có khoảng gần 600 trạm quan trắc tự động, cứ mỗi 15 phút có một bản tin và khoảng 10 – 15km lại có một trạm. Trong khi đó, VN chỉ có 173 trạm thủ công nên không thể chi tiết hóa việc dự báo. Các nước bạn như Hàn Quốc, Nhật Bản... chi khoảng 450 triệu USD mỗi năm cho ngành khí tượng, trong khi nước ta chỉ khoảng 500 tỉ đồng.

<?> Ông có đánh giá gì về trình độ dự báo của các dự báo viên nước ta hiện nay?

- Ngành khí tượng thủy văn vẫn là ngành thu nhập cấp thấp, nên đội ngũ dự báo viên hiện vẫn khá thiếu hụt về trình độ, năng lực. Các nước bạn thu nhập khoảng gần 30.000USD/năm thì dự báo viên nước ta chỉ vỏn vẹn 2.400USD mỗi năm (mức cao nhất). Chúng tôi đã đề xuất nhiều với Chính phủ về việc tăng cường đầu tư cho ngành khí tượng thủy văn, tạo chính sách thu hút nhân tài nhưng cũng phải khẳng định, vẫn còn quá nhiều lĩnh vực khác cần được ưu tiên đầu tư hơn.

Hơn nữa, với đặc thù của ngành, phải liên tục đầu tư 10 – 30 năm thì mới đạt hiện đại hóa được. Đơn cử như một việc nhỏ là xin đất để mở trạm quan trắc đã khó, việc đầu tư công nghệ lại là chuyện khác, đây vẫn là câu chuyện đáng để bàn dài dài.

<?> Xin cảm ơn ông!