Ký họa: TRỊNH TÚ

Việt Nam, một quốc gia có mấy ngàn năm tuổi dứt khoát phải có một loại tính cách riêng nào đó trên cái nền chung của văn hóa Đông Nam Á. Văn hóa của người Việt không phải là văn hóa biển đảo như Philippines, Indonesia, Singapore. Việt Nam ít dấu vết của văn hóa Hồi giáo. Việt Nam cũng không chỉ ảnh hưởng đơn tuyến với văn hóa Phật giáo như Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia. Về mặt địa lý thì đã đành nhưng ngay cả về mặt địa - văn hóa thì Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực Đông Nam Á “tiếp giáp” trực tiếp với Trung Quốc.

Tạng tính văn hóa truyền thống của người Việt được tạo thành bởi ba yếu tố: Văn hóa Nam Đảo, Văn hóa Phật giáo, Văn hóa Hán.

"Tận nhân lực quỷ thần chi", phải đi đến tận cùng của mình để tìm ra mình, tìm thấy mình, để tìm thấy sức mạnh của mình. Sức mạnh không phải là hơn hay kém, thắng hay thua người khác. Sức mạnh của mình, sức mạnh của mỗi một dân tộc là đặc tính, tạng tính, là sự khác biệt với người khác, với các dân tộc khác. Khác biệt chắc chắn sẽ loại trừ cạnh tranh, xét trên phương diện làm ăn buôn bán, kinh tế xuất nhập, thị trường… Sự khác biệt sẽ loại trừ cạnh tranh giữa nền kinh tế này với nền kinh tế khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa công ty này với công ty khác, sản phẩm này với sản phẩm khác. Cạnh tranh không cần thiết phải loại trừ nhau, tiêu diệt nhau. Sự khác biệt loại trừ cạnh tranh sẽ tạo ra một thị trường hòa bình, bền vững, tất cả đều thắng, thương trường không nhất thiết phải là chiến trường và đặc biệt là nó mang tính nhân văn sâu sắc.

Sự khác biệt tức là tạng tính, tức là thế mạnh, tức là sức mạnh. Mỗi người một sở trường riêng biệt. Không ai mang sở đoản ra để thi với người khác cả.

Biết được mình là ai, thế mạnh của mình là gì vô cùng quan trọng, từ đó mới có giải pháp để khai phóng chính xác vào cái sinh huyệt đó. Cũng là lẽ tự nhiên thôi, Trời không cho ai hết và cũng không lấy của ai hết tất cả. Không ai có thể làm được hết mọi việc, không “ai” có thể sản xuất được tất cả các mặt hàng. Không ai có thể thành công ở mọi lĩnh vực. Mỗi người mỗi việc nên hiểu theo nghĩa là, mỗi người hãy làm đúng cái việc theo thế mạnh của mình và sở trường của mình.

Xét trên phương diện nghệ thuật thì thế mạnh, sở trường của mình chính là sự khác biệt, đặc biệt, là cá nhân, là không giống ai, không trùng lặp, là dấu vân tay, là “ADN”, là phong cách. Thật dễ mà vô cùng khó. Mình vẫn là mình đấy nhưng không phải ai cũng tìm thấy mình. Trong chữ "đẹp" đã hàm chứa chữ khác biệt nếu không muốn nói đẹp bắt buộc là phải khác biệt. Đẹp mà người ta đã làm rồi thì đâu còn đẹp. Ở đây không bàn đến những trường hợp cá biệt là những người không bao giờ có nhu cầu đi tìm mình, chỉ đi bắt chước người khác. Khi đã tìm thấy mình tức là đã tìm ra được phong cách của mình, thiên bẩm của mình, tạng tính của mình.

Tạng của người Việt là “nhỏ”, người Việt không nên chạy theo cái hoành tráng và to lớn. Những tinh hoa trong nghệ thuật Việt đều là nhỏ. Người nào nghệ thuật đó. Từ mấy con rối nước (rối nước có từ đời Lý) đến con tò he, con chó đá, đến điêu khắc trong đình chùa v.v... đều là cái đẹp của sự nhỏ nhắn. Thử hình dung những pho tượng Thị giả trong chùa Bút Tháp mà lại cao lênh khênh thì còn đẹp hay không? Không cứ cao dài mới là đẹp. Bất kể một ngôi đình nào, bạn hãy đo cho tôi khoảng cách từ hiên đến tầu mái thì sẽ thấy rất thấp, sẽ thấy tỷ lệ của người Việt. Từ nhà cho đến đình, chùa của người Việt đều thấp.

Không cứ phải to lớn hùng vỹ mới là hay, là tài, là giỏi. Tạng tính của người Trung Quốc là dài, rộng, họ mới làm Vạn Lý Trường Thành; tạng của người Campuchia thế nào đó họ mới xây được Angko Wat hoành tráng thế v.v... Có nhiều kẻ tự ti đến tội nghiệp, đi du lịch Campuchia về rồi than thở: "Đến Angko về chả muốn đi chùa Việt nữa". To cũng hay, nhỏ cũng hay, miễn sao phải là mình. Phải biết mình, biết người, biết tạng chất của mình để khai phóng.

Trong phát triển văn hóa cũng không ít chuyện “khai phóng nhầm”, đó là chuyện xây chùa to. Chẳng ở đâu xa, ngay ở Hà Nội thôi, cứ hễ tu sửa chùa là dỡ ra, xây mới, cơi nới thành hai, ba tầng, xây tường cao như xây tường thành, cổng tam quan bề thế, lênh khênh. Nhưng điển hình nhất của phong trào tham to là vụ xây chùa Bái Đính. Ngôi chùa này giữ nhiều kỷ lục về Phật giáo, tượng Phật Tam Thế, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay, Đại hồng chung bằng đồng lớn nhất Việt Nam và có 500 vị La Hán bằng đá. Một ngôi chùa khổng lồ nhưng xấu đến thảm hại từ kiến trúc đến mỹ thuật, điêu khắc. Chắc chắn đây sẽ là một dẫn chứng chính xác nhất để nói về sự phá sản tinh thần của người Việt hiện đại. Chưa vội nói đến những ngành công nghiệp như máy bay tầu bò, đóng xe hơi, làm xe máy. Chỉ để ý một chút thì sẽ thấy toàn bộ ngành sản xuất đồ lưu niệm thủ công mỹ nghệ cho du khách (nội địa cũng như quốc tế) hoàn toàn bị bỏ ngỏ, xấu xí, nhếch nhác, cũ kỹ. Đáng lẽ thủ công mỹ nghệ là thế mạnh của người Việt, truyền thống của người Việt.

Bạn hãy kiểm chứng điều này ở các quầy bán hàng lưu niệm ở các nhà ga hàng không Hà Nội, Sài Gòn, Huế hoặc các điểm dừng chân cho du khách trên các tuyến đường. Cũng đầy đủ hàng sơn mài, thêu thùa, đồ đá, đồng, bạc, gốm nhưng không có bất cứ một giá trị thẩm mỹ nào nếu không muốn nói là phản thẩm mỹ. Tôi luôn bị giật mình và tự hỏi: "Tại sao cha ông ta giỏi thế mà người Việt hôm nay lại đến nông nỗi này?". Thật đau đớn khi chúng ta có truyền thống, có tay nghề giỏi, có nguyên liệu tốt, mỗi năm có mấy trăm người tốt nghiệp các ngành đồ họa, tạo dáng, thiết kế mỹ thuật ra trường mà lại không làm ra được những sản phẩm đẹp?

Tôi đã đi nhiều làng nghề thủ công ở miền Bắc, làng làm giấy dó ở Dương Ổ (Hà Bắc), làng thêu ở Thường Tín (Hà Nội), làng sơn quang dầu Cát Đằng (Hà Nam), các làng gốm ở Thổ Hà, Phù Lãng, Cậy, Hương Canh, Bát Tràng, Chu Đậu v.v... Cái chết của các làng nghề Việt Nam đều có chung một nguyên nhân: Mẫu mã xấu, ít, lạc hậu, không thay đổi nhưng bao giờ họ cũng đổ tại không có thị trường. Xấu thế thì bán sao được? Thì ai dám mua, dám bán?

Có một số tổ chức quốc tế phi lợi nhuận đã nhận ra điều trớ trêu này. Họ đến các làng nghề, nghiên cứu, thiết kế những sản phẩm mẫu và tặng lại. Ví dụ gần đây du khách đến Sapa đã nhận thấy sản phẩm quà lưu niệm phong phú hơn trước rất nhiều, mẫu mã đẹp, thiết kế chuyên nghiệp, hiện đại. Từ những cái túi, ví, khăn, những con thú nhồi bông may bằng thổ cẩm của người H’mông, người Dao… Có rất nhiều các cửa hàng kinh doanh đồ thủ công mỹ nghệ, trang trí nội thất ở Sài Gòn và Hà Nội mà chủ là các designer nước ngoài. Họ thành công chính là do họ nhanh tay nhanh mắt phát hiện ra tay nghề giỏi của những người thợ Việt Nam, nguyên liệu rất tốt nhưng người Việt không biết cách biến thế mạnh ấy thành những sản phẩm đẹp, nói cách khác người Việt không biết thế mạnh của mình, không biết khai phóng sở trường của mình.

Không được để cho các làng nghề thủ công truyền thống bị cô đơn. Không được để những người thợ thủ công bị chết đói trên cánh đồng màu mỡ của mình.

Hãy kết nối họ với đội ngũ những nhà thiết kế trẻ. Hãy bắt đầu từ câu chuyện nhỏ, những đồ vật nhỏ cho thị trường quà tặng, lưu niệm. Ví dụ một đôi đũa gốm, một cái kẹp tóc bằng gỗ khảm trai, một cái khay bằng sơn mài, một cái giá nến bạc, một cái lót ly bằng thổ cẩm… Xin được nhắc lại, phải thiết kế đẹp, hiện đại.

Đó chính là khai phóng, khai phóng từ những điều nho nhỏ như vậy. Hãy cứ làm nhỏ trước đã.

12.2012