Nó là bằng chứng xác thực nhất về một góc khuất tăm tối của cuộc chiến tranh đã được đưa ra ánh sáng.Nó là bằng chứng xác thực nhất về một góc khuất tăm tối của cuộc chiến tranh đã được đưa ra ánh sáng.

Sau 42 năm im lặng, kể từ khi Ronald công bố lần đầu những bức ảnh về vụ thảm sát Mỹ Lai trên tạp chí Life năm 1969, ông bất ngờ quay lại Sơn Mỹ vào những ngày cuối năm 2011. Được đi lại trên những con đường làng dậy hương cỏ mật, bước chân của Ronald nửa khẽ reo vui, nửa lại ngập ngừng như thể ông đang lạc vào một thế giới chiêm bao nào đó mà mình chưa kịp định thần.

Sơn Mỹ của 43 năm trước vẫn còn nguyên vẹn trong ông với mịt mù khói súng lẫn với tiếng kêu thảm thiết của những người phụ nữ và đám trẻ con trước giờ họ bị hành quyết. Mùi hương cỏ mật rất đỗi thanh bình hôm nay vẫn không đủ để xua đi những ám ảnh về buổi sáng khủng khiếp ngày 16.3.1968 ấy.

Sơn Mỹ đã xanh hơn trong mắt của bao người lính Mỹ từng vấy máu tội ác khi họ có dịp trở lại nơi này. Sơn Mỹ cũng đã yên hàn hơn sau những can qua đổ vỡ, sau những chất chồng gian nan cơm áo mấy mươi năm thời hậu chiến. Sơn Mỹ đã biết bỏ lại phía sau lưng mình cả một quá khứ trĩu nặng thương đau để hướng về phía trước.

Người Sơn Mỹ cũng đã biết nở những nụ cười khi gặp khách nước ngoài, kể cả những người đã từng hướng mũi súng và lưỡi lê về phía họ. Ronald Haeberle đã thu vào ống kính của lòng mình tất cả những điều đó khi ông trở lại nơi này.

Thế nhưng, nỗi ám ảnh của quá khứ mà ông, với tư cách là người từng trực tiếp can dự, luôn giày vò Ronald trong suốt chuyến đi. Đôi mắt xanh biếc của Ronald chợt vui khi gặp một bông hoa dại trên đường nhưng rồi bỗng lặng buồn khi nhìn những nấm đất nằm xếp hàng bên nhau mà người phiên dịch đã cho ông biết, đó là những nấm mồ không tên tuổi của các nạn nhân vụ thảm sát Mỹ Lai.

Lòng ông chợt dịu lại khi nhìn đám trẻ con hồn nhiên nô nghịch trên đường làng rồi bỗng lặng tờ khi gặp những cụ già cắp rổ ngược chợ quê. Hình như đám trẻ con và các cụ già này ông chưa từng gặp, chắc chắn là như thế, nhưng những tiếng cười trẻ thơ ấy, những ánh nhìn không gợn chút oán thù nào ấy, Ronald như đã gặp, vì ông đã từng mong mỏi điều ấy suốt 43 năm rồi.

Ông trở lại Sơn Mỹ cũng là đi ngược về tuổi thanh xuân của mình, nhưng đó là tuổi thanh xuân rớm máu. Dù có rớm máu như thế nào đi nữa thì Ronald vẫn phải trở lại nơi này để nói với dân làng Sơn Mỹ một câu thôi, cái câu mà ông đau đáu suốt mấy chục năm qua: “Xin mọi người hãy tha thứ cho tôi dù tôi không hề có lỗi!”.

Khi nghe Ronald nói điều này, bà Hà Thị Quý, nạn nhân còn sống sót trong vụ thảm sát, xua tay: “Chúng tôi mới là người phải cảm ơn ông. Dân Sơn Mỹ đã đợi ông trở lại mấy chục năm rồi mà”. Nghe người đàn bà từng được vớt lên từ đống xác người của vụ thảm sát nói điều đó, Ronald chợt hiểu, lòng ông giờ đã rũ được một vết thương. Ký ức của 43 năm trước chợt ùa về như một cơn lốc.

“Năm ấy tôi 28 tuổi, là phóng viên chiến trường của quân đội Mỹ. Khoảng 9 giờ sáng ngày 16.3.1968, tôi nhận lệnh lên máy bay trực thăng cùng một tốp lính Mỹ của đại đội Charlie từ núi Chóp Vung trực chỉ Mỹ Lai. Khi máy bay hạ dần độ cao, đập vào mắt tôi là những ngôi nhà rần rật cháy cùng với cảnh tượng hỗn loạn của dân làng đang tìm chỗ ẩn nấp hoặc chạy dạt ra các cánh đồng gần đó.

Vừa thoát khỏi máy bay, chúng tôi tiến vào xóm, đã thấy ngay cảnh một cụ già bị lính Mỹ lôi xệch từ trong nhà ra. Khi ông cụ vừa bị lôi ra khỏi nhà cũng là lúc ngôi nhà trở thành ngọn đuốc khổng lồ. Đó là bức ảnh đầu tiên tôi ghi lại được, mở đầu cho một serie ảnh tại Mỹ Lai sau đó”.

Ông Mike, nhân vật trong phim "Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai" với trẻ con Sơn Mỹ.

Tôi chen ngang dòng hồi tưởng của Ronald Haeberle bằng một chút tò mò từ trong ký ức tuổi thơ mình: “Theo tôi được biết, tỉnh Quảng Ngãi đã từng xảy ra ít nhất là 15 vụ thảm sát, nhưng tại sao chỉ có vụ Mỹ Lai là được đưa ra ánh sáng, phải chăng chỉ có ông mới là người dũng cảm dám đối mặt với sự thật tàn nhẫn ấy, còn những nhà báo khác thì không?”.

Ronald nhún vai: “Ồ, không hẳn vậy đâu. Không phải cuộc hành quân nào của quân đội Mỹ cũng đều có nhà báo đi theo. Vì vậy, có những “sự thật” có thể còn đau lòng hơn cả Sơn Mỹ nhưng không được phanh phui. Nếu nói việc ghi lại dăm ba khoảnh khắc nào đó về sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam là một điều may mắn trong đời làm báo thì tôi là một người may mắn. Vì rằng, nếu không có những bức ảnh của riêng tôi hôm đó thì sẽ không mấy người biết về một Mỹ Lai như toàn thế giới đã biết”.

Tôi lại tò mò lần nữa khi nghe ông Ronald nhấn mạnh đến mấy chữ “của riêng tôi” bằng một câu hỏi: “Ông có thể giải thích điều đó được không?”. Ông Ronald chậm rãi: “Dạo ấy, lúc nào tôi cũng mang theo hai chiếc máy ảnh để tác nghiệp. Hôm ở Mỹ Lai, tôi chụp gần 40 bức ảnh đen trắng bằng chiếc máy Leica và 19 bức ảnh màu bằng chiếc máy Nikon-F. Máy Leica là của quân đội Mỹ cấp, vì vậy, theo quy định, sau khi chụp, tôi phải giao lại toàn bộ số phim cho cấp trên của tôi; còn chiếc Nikon-F là máy ảnh của riêng tôi nên những gì tôi chụp, tôi chỉ giữ cho mình, không phải giao cho ai cả”. Có thể nói, 19 bức ảnh màu của Ronald như 19 khối thuốc nổ làm rung chuyển nước Mỹ thời đó.

Đi với ông Ronald hai ngày ở Sơn Mỹ, khi nhắc về những bức ảnh ấy, lúc nào tôi cũng nghe ông phân trần rằng “đó chỉ là sự ngẫu nhiên”, nhưng tôi biết, ông không chỉ là một nhà báo có lương tâm mà còn là người rất có ý thức về nghề, tiên liệu hết giá trị của những bức ảnh được gọi là “của riêng” ấy. Khi Ronald công bố những bức ảnh màu lần đầu tiên trên tạp chí Life cuối năm 1969, chính quyền Mỹ mới “té ngửa” ra rằng, những gì mà họ tưởng như đã giấu kín thì nay bị lộ sáng hoàn toàn.

Ronald nói với tôi rằng ông đã dằn vặt như thế nào trước khi đưa ra quyết định ấy. Là bởi, khi công bố những bức ảnh Mỹ Lai là ông đã phản bội lời thề của chính ông với quân đội Mỹ. Nhưng lương tri của một nhà báo thức tỉnh đã không cho phép Ronald im lặng.

Ronald giờ tham gia đội xe đạp vòng quanh Châu Á của những người già bạn ông bên Mỹ. Ông đã biết giấu đi cái tuổi 71 của mình bằng vóc dáng khỏe khoắn của một tay đua cự phách. “Nhưng đích cuối của chặng đường đi đời tôi vẫn là Sơn Mỹ. Tôi sẽ đến “đích” này vào dịp 45 năm thảm sát Mỹ Lai”.

Tôi chúc ông lên đường may mắn. Cầu mong chiếc xe đạp của ông không tuột xích dọc đường để tháng 3.2013 này, ông lại về “đích” Sơn Mỹ như đã hứa.