Cái khí chất thanh tao, lịch lãm của Hà Nội đã mê hoặc các nghệ sĩ và chắc là sẽ còn kéo dài mãi.

Khó có thể định nghĩa khí chất Hà Nội theo quy chuẩn khoa học hay tâm linh nào, cái không cụ thể chỉ có thể phát hiện ra bằng xúc cảm và nuôi dưỡng nó bằng nghệ thuật. Bởi vốn dĩ nghệ thuật không phải mô tả cái nhìn thấy mà đi tìm cái trong tâm tưởng.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái đã phát hiện ra một Hà Nội rất hội họa của riêng ông, và ông đã kéo dài đời sống của Hà Nội ngàn năm cho đến vô tận, vượt ra ngoài biên giới. Hà Nội của Bùi Xuân Phái đánh thức biết bao kỷ niệm trong mỗi chúng ta, và hơn thế nữa ông đã biến từng góc phố, từng mái nhà, từng ô cửa thành những giấc mơ mộng mị phiêu bồng, đầy an ủi cho những tháng ngày chật hẹp xô bồ này.

Khí chất Hà Nội là thế, một chút lãng mạn, một chút chểnh mảng bâng quơ nhưng không hề xô bồ. Nó đủ hấp dẫn để lôi kéo một chàng trai Sài Gòn bỏ nhà ra Hà Nội từ những năm 40 của thế kỷ trước, thi vào Trường Mỹ thuật Đông Dương mà thành một cây đại thụ của hội họa Việt Nam có tên là Nguyễn Sáng.

Hà Nội nuôi dưỡng Nguyễn Sáng bằng tất cả sự tinh tế và đằm thắm của mình, còn ông đã nhận Hà Nội là chiếc nôi văn hiến như một sự thật lịch sử để giao phó cuộc đời nghệ thuật của mình.

Thiếu nữ và hoa sen - Tranh của họa sĩ Nguyễn Sáng.

Chúng ta còn nhớ vào mùa thu 1984, lần đầu tiên ông triển lãm hơn 100 bức tranh tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Một sự kiện lớn của Hà Nội ngày đó, người Hà Nội nô nức xếp hàng xem tranh ông, tôn vinh ông, kiêu hãnh về ông. Còn riêng ông, trong bài phát biểu, ông tự nhận mình là con ong đi hút nhụy, cần mẫn cho đời. Và như thế, ai cũng hiểu Hà Nội là một vườn hoa đủ cho ông lấy mật. Nguyễn Sáng thật là sang và Hà Nội cũng thật là sang.

Năm 1925, người Pháp thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại phố Yết Kiêu, Hà Nội, bây giờ là trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Ngày đó, hội họa Việt Nam bắt đầu viết những trang đầu tiên của lịch sử mỹ thuật hiện đại, với phương pháp và quan niệm thẩm mỹ hoàn toàn phương Tây. Nhưng cũng từ ngày đó, những họa sĩ lứa đầu của trường phái hiện thực và ấn tượng Pháp đã không còn trung thành với Ecole de Paris nữa mà chỉ bằng vô thức thôi, khí chất của Hà Nội, hay nói cụ thể hơn, hơi thở của đời sống đô thị mới đã phủ đầy trong từng tác phẩm khởi đầu cho một nền mỹ thuật mới.

Mai Trung Thứ với những khuôn mặt phụ nữ và trẻ thơ vẫn mang đầy đặc tính làng nghề thị dân ra Hà Nội, rồi Lê Phổ điệu đàng một dáng hình tiểu thư, hoặc rõ nét hơn cả là những cô gái mặc áo dài đứng ngồi bên hoa của Tô Ngọc Vân. Những tác phẩm có lẽ là tiêu biểu nhất của ông được vẽ tại Hà Nội với những cô gái Hà Nội.

Cái sức sống lạ kỳ của khí chất Hà Nội đã chi phối trong từng cử chỉ hội họa của lớp đàn anh, để sau đó, cho dù là đề tài gì, theo thời gian với biết bao biến động đổi thay, các thế hệ họa sĩ kế tiếp vẫn hít thở bầu không khí đó để tạo nên một trường phái Hà Nội. Kể từ khóa kháng chiến của thầy Tô Ngọc Vân để có được một Trần Lưu Hậu nay đã ngót nghét 80 mà vẫn lịch lãm, hào hoa, rồi đến lứa học trò của Trần Lưu Hậu đều ít nhiều mang dấu ấn của ông.

Giai nhân màu áo nắng - Tranh của họa sĩ Lê Phổ.

Ngay cả thời gian khó khăn nghiệt ngã nhất của lịch sử, khi lí thuyết của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ đạo toàn bộ sáng tác văn học nghệ thuật nước ta, hội họa theo trường phái Hà Nội vẫn tiềm ẩn một dòng chảy âm thầm. Bùi Xuân Phái vẫn vẽ Phố rồi vẽ thêm chủ đề Chèo với những nhân vật đằng sau cánh gà đầy thân phận. Lưu Công Nhân vẫn vẽ thiếu nữ và hoa thậm chí bắt đầu chuyển sang trừu tượng. Nguyễn Sáng hoàn thành bức “Vũ trụ” nổi tiếng mô tả con người bay vào khoảng không vô định.

Cái tôi của chất Hà Nội thật uyển chuyển, hòa vào đám đông cũng chẳng nề hà, bị gạt ra ngoài cũng ừ. Nhưng hầu như không giữ lại oán thù. Phẩm chất tình cảm đó gần với nghệ thuật hơn là chính trị, và nó có sức lan tỏa âm thầm cho những ai tìm đến một giá trị tinh thần riêng biệt, không áp lực.

Trong đời sống mỹ thuật đương đại sau đổi mới, những họa sĩ ít nhiều hít thở khí chất Hà Nội cũng vậy, họ có một chỗ đứng riêng, tủm tỉm cười với thành công của chính mình. Tôi chợt nghĩ nụ cười của Lê Thiết Cương, của Đặng Xuân Hòa, của Hoàng Hồng Cẩm (ngày xưa) là vậy. Con cá nào thì cũng muốn tìm về dòng sông lớn để thoát khỏi ao tù. Nhưng có loài cá của sông lớn lại bơi ngược dòng về nguồn cội, vượt bao thác ghềnh tìm cho được nơi chúng sinh ra, rồi đẻ trứng để vĩnh biệt dòng sông, nhường lại dòng sông cho một dòng trường sinh mới, tự nguyện không một lời than vãn.

Thái độ thản nhiên đầy hy sinh đó được gọi là khí chất của một giống nòi và nó cũng na ná giống khí chất của một vùng văn hóa, không bắt chước và cũng không có gì thay thế được. Nó sẽ mãi tồn tại để giữ nguyên vẹn một giá trị bất biến.

Còn nhớ, ngày danh họa Bùi Xuân Phái về trời, đám tang ông có hàng vạn người đưa với vô vàn vòng hoa tưởng niệm. Trong đó có một vòng hoa lớn với lời tiễn: “Những người yêu nghệ thuật kính viếng”. Người Hà Nội là thế, khí chất Hà Nội là thế.

Thiếu nữ bên hoa huệ - Tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân.