Tôi lắc đầu. Chao ơi là tầu chợ. Thật lắm đoạn trường. Ngay ga chính mà cái vé tầu của anh đã không thể phát huy tác dụng. Thiên hạ đâu mà lắm thế, dưới trên phải trái trong ngoài, từ mui tầu đến cầu thang lên xuống chật ních người và hàng hóa. Nóng nẩy và chật như nêm cối, không thể chen chân, hai thằng tôi phải bò lên mui. Trên mui cũng cả một biển người, và một biển chợ đầy đủ từ thuốc lá, trà đá lạnh, bánh mì, cơm dĩa vân vân... Dân mua bán nhảy từ gon nầy sang gon khác như trò trẻ con, nhìn mà ớn lạnh, chỉ cần sơ sẩy rơi xuống những chiếc bánh sắt đang khập khà khập khễnh có mà bấy bá như tương, và chết vì điều đó cũng không hiếm. Dân chuyên nghiệp sống trên tầu bảo vậy.

Chuyện tranh giành lãnh địa trên tầu chợ khốc liệt không thua chi phố phường. Bọn địa phận Nghĩa Bình, phải xuống ga La Hai nhường cho Phú Khánh. Cà chớn lấn sân là chết ngất ngư con tầu đưa. Rừng nào cọp đó và cha chú không thua bất cứ đâu. Cũng nài ép khách đi tầu mua cho bằng được cái thiu ế với giá cắt cổ. Không thích thì ngó lơ chỗ khác, đừng lên tiếng làm chi, có ăn vài ba tiếng chửi thề cũng chớ ngu mà cự lại, trả giá mà không mua thì ăn cù loi. Thật vậy.

Hai thằng tôi ngồi chung với một toán trầm hương thất cơ lỡ vận. Bốn em bốn ba lô và bốn mũi rìu được cột cẩn thận. Như dân vàng, với tóc dài môi thâm mắt trắng, nước da đặc trưng màu sốt rét. Mo trắng tay nên thảm hại lắm. Những tay nầy cũng mộng một bước nên ông. Lăn lộn từ Nam chí Bắc, cứ dọc Trường Sơn mà kiếm cái huyền thoại, và huyền thoại thì có thật không vậy ta? Nghe nói có. Không có sao bên La Mã họ có trầm để xông hương? Tôi mời cả gói thuốc lá thơm đầu lọc, gợi chuyện:

- Trầm hương là gì vậy anh Bảo?

Giang hồ tên Bảo trả lời:

- Là vàng hăm bốn ca-ra.

- Ý tôi hỏi nó dùng để làm gì?

- Tao không biết, chỉ biết hễ có nó là giầu. Trong ba loại trầm hương, đá quý và vàng, nó đứng hàng thứ nhất.

- Dễ ăn không anh?

- Nó khó gấp năm mươi lần đá quý và một trăm lần vàng. Bởi hai cái kia còn có tiền xe mà về, còn trầm hương hoặc giàu hoặc trắng tay. Như bọn tao bây giờ, trắng đến nỗi không cơm ăn, thuốc hút. Gặp mày với anh bạn đây bọn tao đúng hên. Mày tên gì?

- Em là Minh.

- Sao tao thấy mày có vẻ sầu đời quá.

- Vậy nên đời gọi em Minh “tàn”.

- Đời hay lắm, đã gọi là không gỡ.

Một bụi đời hai vai mang giá đựng thuốc lá bày hàng trước mặt chúng tôi:

- Mua dùm gói thuốc mấy đại ca.

- Bao nhiêu gói Samit? - Tôi hỏi.

Nó nói cái giá gấp bốn lần dưới sân ga. Tôi trả lời:

- Đắt quá, tao không mua.

- Chớ ông muốn bao nhiêu? Trả giá đi chớ.

- Không mua là không mua, không trả giá.

- Đù má... Thấy mẹ ông à.

Tôi sẵng giọng:

- Cà chớn tao cho ăn bạt tai bây giờ, đồ du côn.

- Được rồi, mày đợi đấy.

Nhóc phóng đi. Bảo và đồng đội nhìn tôi:

- Chuẩn bị đi, sắp lớn chuyện. Bọn Phú Khánh làm trời lắm đó.

Không thể linh hơn. Ngay lập tức, lục lâm kéo đến. Một thằng chột mắt dẫn đầu. Thằng nào? Chột lớn tiếng hỏi và nhóc con trả lời:

- Dạ, thằng nầy nè anh Tân.

Tân chột nhìn tôi:

- Mày đ... biết Tân “chột” Phú Khánh hả?

Mẹ ơi. Không biết ở đâu mà trong tay thằng đại ca có cây mã, nó vung lên. Mấy tay tìm trầm cũng đứng dậy, trong tay lăm lăm lưỡi rìu, tàu vẫn a-bê-xê-cà chạy. Bốn tay trầm hương, tôi, Dũng là sáu. Thật nguy hiểm, chỉ cần không vững chân là té xuống và bị nghiến vào bánh sắt như chơi. Đúng chuyên nghiệp làm ăn trên tàu, lũ bụi vững như bàn thạch. Bốn mũi rìu xỉa ra, sát khí đằng đằng… sợ bị trúng đòn lạc, dân cọp nhảy qua mui khác, ngay lập tức trống trơn. Thật không tưởng nổi cách xử sự của con người, không nói không rằng, thằng đại ca vung mã chém tới và lưỡi rìu xỉa ra. Đại ca dính đòn, mã tự động rời tay, ôm lấy mặt. Máu tuôn ra ướt cả áo, sàn mui tầu những máu là máu. Gon trước và gon sau những người là người đứng coi. Và lập tức đồng loạt vang lên:

- Ngồi xuống, cúi xuống... Đến Ma-Lâm rồi lìa.

Thật kì lạ, tất cả mọp xuống sàn mui. Tôi cũng như ba quân, chả hiểu khỉ khô gì. Tầu đi qua một cầu sắt không dài lắm. Xong. Tất cả lại ngước lên nhìn bọn em út của Tân “chột”, băng bó vết thương trên mặt cho anh. Đến một ga xép chúng bò xuống. Bảo nhìn tôi:

- Thế giới tầu là vậy, chúng ăn thịt mình, và mình phải tự vệ như vậy nếu muốn sống. Hiền là chết, hiểu không?

- Sao lúc nẫy ai cũng rạp xuống mui vậy anh?

- Cầu Ma Lâm thấp lắm, đã có khối thằng chết vì đầu va vô thành cầu.

Chúng tôi thân nhau hơn. Có tí tiền nên tôi và Dũng cũng vung tay tế độ cứu người lúc lâm nguy. Thực ra giang hồ dạy tôi rằng, đồng bạc bỏ ra cho tha nhân không bao giờ mất. Anh gửi đó, sẽ có ngày anh lấy lại bằng một hình thức khác. Trước mắt, trong mắt bầu địu Bảo, tôi và Dũng là những tay chơi ngoại hạng. Tôi hỏi:

- Một chuyến tìm trầm của anh bao nhiêu ngày?

- Vài ba tháng.

- Trên rừng lương đâu mà dự trữ?

- Chỉ cần lương ăn trong một tuần. Hết, ta xuống kiếm cái khác mà tiếp tục... Mà mày hỏi làm chi? Khó giải thích lắm. Nếu muốn, hôm nào ghé tao chơi, bắt đầu mùa khô tao sẽ tổ chức sắm chuyến, đi theo, lúc đó mày sẽ rành. Có tận tay làm, tận mắt chứng kiến mới thông, nghe kể, hoặc đọc báo thà đọc truyện cười còn thú vị hơn.

- Anh ở đâu?

- Tao cũng về chung tuyến lộ hai mươi với tay Dũng nầy. Có dịp mày và anh Dũng ghé Suối Nho hỏi Bảo “Tố” ai cũng biết. Tao tên Bảo, vợ tên Tố, nên gọi vậy chứ cũng chẳng ra cái ôn dịch gì.

- Rồi – Dũng “đen” nói – Tôi sẽ gặp anh, sẽ theo anh tìm trầm.

Chúng tôi xuống ga Long Khánh. Trời về đêm. Rời ồn ào náo nhiệt của ga, đi bộ theo đường sắt ra lộ. Lại ghé quán làm sương sương đôi li giải cơn buồn. Chủ quán cũng không lạ Bảo “Tố”:

- Lâu quá mới gặp ông. Sao rồi đại ca?

- Mo trắng tay... Mà thôi, lấy một lít với cái gì sương sương coi.

- Ghi sổ hả cha nội? Lần trước chưa thanh toán à.

Tôi lên tiếng:

- Thanh toán đàng hoàng, cả cũ lẫn mới, anh yên tâm.

Bảo lăn lộn đời cũng gớm ghê. Tay chơi dạng lẫy lừng, xem tiền như trò chơi, và tự nhiên như ruồi:

- Nếu mày có cho tao mượn chỉ vàng.

Tôi đưa cho Bảo cái khâu, trong số năm chục cái Dũng trả cho công cán của tôi:

- Mày không sợ à?

- Có chi mà sợ. Tôi cho con anh ăn bánh cũng được.

- Vàng mày ăn cướp hả?

- Tôi không có gan đó.

- Kể ra mày cũng chì, mới biết nhau mà xử vầy kể cũng hảo hớn. Nếu được mày cho tao mượn thêm chỉ nữa. Tao chia tư cho bốn anh em có cái đem về cho vợ con nheo nhóc. Tao sẽ trả. Bảo “Tố” xưa nay lừng danh sòng phẳng...

- Tôi cho anh mượn bốn chỉ. Trả hay không tính sau.

Nét buồn chán trên mặt bốn tay trầm vụt biến mất. Nụ cười rạng rỡ trên môi. Cho hay mãnh lực của vàng là ghê gớm. Thân tình trên mức tự nhiên lộ diện. Và cái thân không giấy tờ tùy thân của tôi được Bảo giải quyết:

- Vậy thì tối nay không trọ bến xe. Tại ở bến tối nào cũng có truy quét tệ nạn và bắt trốn nghĩa vụ, mày ra đó là bị thộp về xã, sẽ không biết đi đâu về đâu liền. Ê, chủ quán, ông coi tối nay có chỗ nào cho bọn tôi qua đêm không?

- Có cả em út cho mày luôn, miễn có tiền.

- Cám ơn rất nhiều. Còn về sau nếu muốn, mày ghé tao, tao bảo lãnh cho, mua lấy ba sào đất, cắm cái dùi để đó rồi hợp thức hóa là thành công dân liền. OK?

Tối ấy, bọn chúng tôi vào nhà nghỉ. Đó là một khu trọ xập xẹ ở gần bến xe. Lũ đàn ông sau nhiều tháng bôn ba rừng núi, mơ ngày về ôm lấy một kiều thơm. Sang như Mỹ, mỗi thằng một phòng. Riêng tôi không, còn anh trai nào cũng có một em hầu hạ qua đêm. Bảo hỏi tôi:

- Mày sao vậy?

- Có sao đâu anh, tôi không thích.

- Có gì nói với tao, tao giúp cho một vé. Sống mà không đàn bà thì chết quách đi cho xong... khà khà khà...

Không hiểu sao tôi kì quái vậy. Có thể cái chết của Dung đã ám ảnh tôi chăng? Cái chết của em khủng khiếp quá, nó đã làm tâm hồn tôi lụn bại. Một năm lao cải, một năm bãi vàng. Rồi Pleiku, Quy Nhơn bây giờ là Long Khánh, lâu rồi tôi chưa biết đến đàn bà và ân ái. Cũng đâu sao, không đàn bà cũng đâu chết ai. Nhưng đêm đó, đàn bà đến.

Tôi mở sau tiếng gõ cửa. Một bóng hồng và hương thơm:

- Buồn vậy anh, em vào chơi được không?

Cô gái tự nhiên vào phòng và tự nhiên làm bất cứ thứ gì của một người vợ dành cho chồng. Nhưng gì gì chăng nữa, thằng đàn ông trong tôi vẫn ngủ yên. Tôi ôm cô và hỏi về chuyện đời. Rằng cô có chồng, có con. Chồng vượt biên, chết. Con còn nhỏ, cô không biết làm chi có tiền, đành bán cái tự có:

- Em không muốn, nhưng thất nghiệp quá anh à. Đàn ông con trai còn kiếm sống trong rừng, em đàn bà con gái biết làm gì hả anh? Nếu em có chừng hai chỉ vàng, em tậu một xe thuốc lá, bán lẻ cũng sống được... làm cái nghiệp nầy nhục nhã lắm anh.

Máu hảo hớn nổi lên. Tôi hứa với cô sẽ cho cô hai chỉ. Cô gái quệt nước mắt:

- Anh đừng giỡn với Thúy.

Tôi lấy ra hai chỉ vàng, đeo vào ngón tay cho cô. Trong khi Thúy khóc vì thương cảm, tôi vỗ về cô và kể chuyện đời mình. Về chuyện vượt biển và cái chết tức tưởi của người yêu tôi. Thúy à lên:

- Em hiểu rồi. Anh bị sốc thôi, anh cứ giải tỏa hết đi, đừng để lại cái gì trong lòng là mọi chuyện bình thường thôi mà.

Tôi kể luôn chuyện đã chém trí mạng thằng cướp biển, kể hết, kể sạch... Có lẽ Thúy nói đúng. Bao nhiêu oán hờn trong đời tôi tuôn sạch sanh sanh với Thúy và thiếp đi trong vòng tay cô. Gần sáng tôi tỉnh dậy và ơn trời.

Thằng cường tráng trong tôi thức dậy.

3

Ở nhà của Dũng, tôi hiểu thêm được một nhân cách bất đắc chí. Đó là cha của Dũng. Ông ta có một quá khứ quyền lực tương đối huy hoàng. Là trung úy đại đội trưởng của một đơn vị bộ binh. Sau binh biến, ông chạy từ Quảng Trị vào Sài Gòn. Không dám về quê gốc, nên định cư ở Quy Nhơn. Ông nói:

- Lẽ ra tao cũng không vô đây, nhưng hôm đó gặp một thằng quen trong ủy ban, nó biết tao trước là sĩ quan. Sợ nó tố ra thì chết nên tình nguyện vô xứ nầy…

Tay cựu sĩ quan nầy nát rượu, ba sợi vô là kể thời huy hoàng, than rằng nếu cuộc chiến kết thúc mà phần thắng thuộc về phe ông Thiệu thì tao đâu nên nỗi. Ngấm rượu chửi luôn ông Thiệu là phản quốc, là mị dân. Trong khi lính tráng của ông khổ như con chó thì ông ta ôm mười sáu tấn vàng dông mất tiêu… Tôi ngồi nghe ông than thở mà chán ơi là chán. Không hiểu sao ông ta thích tôi, cứ lôi tôi mà tâm sự.

Con trai Dũng ông nội quý như vàng, ông luôn chửi cha thằng nhỏ là bạc tình:

- May mà mẹ nó đi lấy chồng để con cho tao, nếu mà nó ẵm đi tao cũng chịu.

Rồi ông vỗ bàn:

- Mầy là thằng bạc tình, rồi đây sẽ không có một kết cục đẹp cho mày đâu. Mày lấy con người ta không cưới hỏi, lại bỏ bê…

Con trai Dũng nhìn cha lạ hoắc, thậm chí nó thét lên khóc khi cha thò tay nựng nịu. Biết sao được, ba tuổi nó mới biết cha là cái ông đen thùi thui nầy. Thằng nhóc là niềm vui trong sáng của cả gia đình, nó làm đủ trò cười chết bỏ. Cũng ngồi xếp bằng, tay ly, tay chai, cũng khà, nhăn mặt vỗ đùi… Ông nội sao nó vậy.

Nó giống Dũng y khuôn. Dũng nói:

- Nó mà giống thằng kia chắc chết bà nội tao quá.

Tôi ở chơi nhà Dũng được nửa tháng. Trong chừng ấy thời gian, Dũng cự với cha mười lăm lần. Mỗi ngày một lần. Mẹ Dũng nói:

- Xưa giờ vậy. Nó với ông ấy không hạp.

(còn tiếp)