Nỗ lực của quốc gia bạn đã đưa được môn võ này vào chương trình của SEA Games 15 tổ chức ở Malaysia (1989) rồi lan toả thành những cuộc thi đấu quốc tế vượt ra khỏi khu vực Đông Nam Á.

Chỉ bắt đầu từ một cuốn sách dạy Pencak Silat được lãnh đạo thể thao Việt Nam giao cho, võ sư họ Đỗ cùng với một vài đồng nghiệp tâm huyết của mình đã tuyển chọn võ sinh rồi huấn luyện. Để rồi chẳng bao lâu sau, Việt Nam lại trở thành một trong những quốc gia cạnh tranh chức vô địch ngay cả với các đối thủ là chủ nhân của môn võ này. Ví như cô gái Việt Nam Trịnh Thị Mùi đã đứng lên bục vô địch môn thi đấu này liên tiếp 4 giải SEA Games, 2 huy chương vàng giải vô địch thế giới và một huy chương vàng giải châu Á...

Nhưng anh bạn họ Đỗ lại cũng là người đau đáu một nỗi niềm, cố công sưu tầm và nghiên cứu mong có được hiểu biết thấu đáo về võ Việt cổ truyền mà theo anh đã mai một quá nhiều. Anh cho rằng không chỉ Pencak Silat, mà với những món võ như Karatedo, Teakwondo của Hàn Quốc hay Wushu của Trung Hoa, các võ sinh Việt Nam nhập cuộc tiếp thu rất nhanh và sớm đạt những trình độ gây ấn tượng... Phải chăng trong con người Việt Nam dường như có những tố chất tiềm ẩn về võ thuật.

Anh chơi với tôi một phần vì tình đồng nghiệp làm báo nhưng cũng có chủ đích muốn tiếp cận với các nguồn sử liệu để anh giải đáp được câu hỏi: Dân tộc ta phải chống chọi thường xuyên với giặc giã trong đó có cả những đạo quân xâm lược đến từ xứ sở có nền võ thuật thâm hậu hàng đầu thế giới; dân ta lại luôn lấy chiến tranh du kích, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, lấy đoản binh thắng trường trận, lấy cận chiến làm sở trường... hẳn phải có trình độ võ thuật cao cường thế nào mới đương đầu và chiến thắng?

Anh dẫn sách cổ như của người phương Tây nhận xét về đàng Ngoài: “Dưới thời Lê-Trịnh việc tập luyện võ nghệ đã trở thành phổ biến, thường xuyên, đặc biệt trong quân đội...” (giáo sĩ A.De Rhodes) hay “tướng sĩ nhà Lê phần đông là những người tinh thông võ lược” (nhà buôn Samuel Baron) và của tác gia Việt Nam nói về vùng đất đàng Trong: “Dân chúng ở đây đa số đều thích mạo hiểm trong đó có nhiều người gan dạ can trường, sĩ khí hiên ngang, võ công thâm hậu...” (Gia Định thành thông chí). Từ đó anh đặt câu hỏi rằng người xưa sử dụng võ gì là chính và trong biết bao nhiêu trường phái võ thuật có trong dân, đâu là... “Võ thật Việt Nam”...

Anh nói với tôi rằng, nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam mang dấu ấn cả một tiến trình lịch sử hình thành lãnh thổ Đại Việt. Chẳng kể đến những võ thuật của các dân tộc thành phần ngoài dân tộc Việt, thì chỉ từ Bắc vào Nam, cái không gian sinh tồn căn bản là làng Việt cũng đã có nhiều thay đổi. Dường như, môn võ cổ truyền phổ biến và giữ bản sắc Việt nhất của các làng xã Bắc Bộ là các lò vật. Hơn một thiên niên kỷ tiếp xúc rồi từng trở thành một đơn vị hành chính của đế quốc phương Bắc đương nhiên sẽ để lại những dấu ấn sâu sắc và ảnh hưởng lâu dài của võ thuật phương Bắc trong nền võ thuật dân tộc ta khi quốc gia Đại Việt đã tự chủ. Cùng thời gian, nhiều dòng võ có xuất xứ từ phương Bắc ấy cũng trở thành một bộ phận của võ cổ truyền Việt Nam với những sự thích ứng hay sáng tạo cho phù hợp với tính cách, vóc dáng người Việt.

Anh nói với tôi rất nhiều suy nghĩ về nền võ thuật Việt với sự nuối tiếc rằng không biết vì các cụ tiền bối không chịu lập thư để truyền lại cho đời sau hay sách vở của các cụ bị giặc ngoài xâm lăng thu huỷ hết, hay chính dân ta vô tâm như có thời xé sách cổ lấy giấy phết diều chơi làm mai một cả khả năng trao truyền di sản...

Đứt gánh dọc đường, anh chưa tìm ra trọn vẹn câu trả lời thì đã qua đời ở độ tuổi còn đang sung sức. Sau này có dịp góp ý cho bộ “Sơ thảo Lịch sử Thể dục thể thao Việt Nam” do Bộ chủ trì và gần đây được đọc bộ “Lịch sử Võ học Việt Nam” của tác giả vốn là Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Bình Định, tôi mới thấy khái niệm “võ cổ truyền Việt Nam” là rất rộng, rất nhiều trường phái mang rất nhiều “mỹ tự” khác nhau. Nhưng dường như trong sự đa dạng có phần chưa thực chuẩn tắc thì địa danh “Bình Định” luôn được nhắc tới như một không gian đặc thù tạo nên một nền võ thuật đặc sắc khó trộn lẫn.

Nhìn lên bản đồ, vùng Bình Định lùi sâu vào Nam Trung Bộ, càng xa phương Bắc càng thuần Việt hơn và chắc hẳn có những tố chất của đế quốc Phù Nam rồi một văn minh Chămpa quá vãng, lại có khả năng lên núi với Tây Nguyên thượng đạo và ra biển với cửa Thị Nại hướng vào đất liền theo dòng sông Côn, lại có cả những lưu dân từ phương Bắc đến cư ngụ thành những Minh hương thời các chúa Nguyễn và thông đường xuống phương Nam để tới lưu vực con sông Cửu Long màu mỡ.

Những lưu dân Việt từ các xứ Thanh, Nghệ rồi Quảng với những phẩm chất như sách xưa từng viết “gan dạ, can trường, sĩ khí hiên ngang” đến mảnh đất Bình Định lại gặp trúng thời Tây Sơn dấy nghĩa. Tất cả đã tạo nên nền võ Bình Định đậm chất riêng biệt mà cốt lõi là một võ Việt chung đúc nhiều tinh hoa không riêng của phương Bắc.

Sách vở có thể thống kê được rất nhiều tên gọi của các môn phái khác nhau của võ Bình Định gắn với những địa danh như Tây Sơn, An Vinh, An Thái... hay được phát triển với những mỹ tự như Tây Sơn Nhạn, Thanh Long Võ Đạo, Sa Long Cương... hay có kết hợp với Thiếu Lâm của Trung Hoa như Bạch Long hay Võ Chùa (ở Long Phước, Tiên Phước...). Và những võ phái từ Bình Định vẫn tiếp tục phát triển theo thời gian và trở thành cốt lõi cho di sản võ cổ truyền Việt Nam vươn ra ngoài lãnh thổ quốc gia.

Câu chuyện từ cố võ sư Nguyễn Đức Mộc cùng với cộng đồng những người Việt Nam có mặt tại nước Pháp trong các cuộc Thế chiến đã quảng bá môn võ của dân tộc mình được nâng cấp với tên gọi Võ Việt Nam (hay Vovinam - Việt Võ đạo) để tới nay đã trở thành một tổ chức quốc tế với nhiều môn đồ ở nhiều quốc gia trên thế giới là một hiện thực cho thấy những ưu việt của võ Việt Nam trong cộng đồng võ thuật thế giới.

Được tham dự cuộc Liên hoan quốc tế lần thứ 4 Võ cổ truyền Việt Nam vừa được tổ chức tại thành phố Quy Nhơn, thủ phủ tỉnh Bình Định mới thấy được sức lan toả của võ thuật Việt Nam. Ngoài Vovinam, nhiều môn phái của võ Bình Định cũng trụ vững tại nhiều nước. Sự hội tụ của các môn đệ của Võ Việt Nam từ nhiều quốc gia và nhiều vùng miền trong nước ta để giao lưu, trao đổi những kinh nghiệm võ thuật và đặc biệt là hướng tới sự ra đời một Liên đoàn Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam càng thấy nhiều điều đáng suy nghĩ.

Nhìn những môn sinh của võ Việt từ các nước khác khi làm lễ phát âm câu “bái tổ” một cách nghiêm cẩn và những đường võ cùng nét mặt nghiêm trang mới thấy hết được cái chiều sâu của võ đạo vượt lên trên những thuật quyền điêu luyện chỉ nhờ khổ luyện. Cái điều ấy lại chưa thấy rõ khi xem trình diễn của nhiều môn sinh trong nước. Có không ít lò võ ở trong nước chỉ nhằm đào tạo những võ sinh trình diễn là chủ yếu, đường đi nước bước, động tác di chuyển như những vũ công hơn là những võ sĩ. Họ bắt buộc phải trình diễn trên nền nhạc mà nhịp điệu chẳng ăn nhập gì với võ thuật, thích hợp trên sân khấu những sự kiện hơn là trên những võ đường thi đấu. Có vị võ sư xuất hiện với trang phục như một vị cao tăng phương Bắc và biểu diễn võ thuật bắt buộc phải trên nền nhạc...“Hoàng Phi Hồng”!

Võ thuật Việt Nam được cơ quan quản lý nhà nước lấy mục tiêu phổ biến rộng rãi và rèn luyện sức khoẻ nhiều hơn là quan tâm đến trình độ điêu luyện, đỉnh cao của võ thuật. Nói cách khác là quan tâm đến phần dân gian hơn là bác học mà võ thuật chỉ có thể trở nên “thâm hậu” khi nó thực sự phải là một giá trị đỉnh cao. Nhiều bạn trong làng võ lo lắng rằng với định hướng quản lý này, những chiêu, miếng thâm thuý, cao siêu nhất của võ cổ truyền Việt Nam, trong đó có cả Võ Bình Định có thể vì e ngại gây nguy hiểm mà bị hạn chế phổ biến sẽ làm mất đi tính hiệu quả khi phải lâm trận đối kháng và sau sự ra đi của các đại lão võ sư nắm giữ các bí truyền thì võ cổ truyền Việt Nam dễ trở thành “nhạt nhẽo” như thức “quan họ cho số đông”.

So sánh luôn khâp khiễng nhưng khi đưa ra dẫn chứng về thành công được thế giới công nhận là Di sản Văn hoá (các loại) của Nhân loại nhiều loại hình văn hoá phi vật thể như Quan họ Kinh Bắc, Cồng chiêng Tây Nguyên, Hát xoan hay Ca trù... thì Võ thuật Cổ truyền Việt Nam nói chung, Võ Bình Định hay Vovinam tại sao không thể là những di sản văn hoá phi vật thể đáng được bảo tồn và phát triển? Cũng như các nghệ nhân trong văn hoá dân gian, các võ sư võ thuật cổ truyền có thể được phong tặng các danh vị Kiện tướng hay Đại kiện tướng như những môn thể thao hiện đại hay không?

... Trước ngày anh bạn tôi qua đời chừng 10 năm, một võ sư trẻ tuổi và tài năng là trưởng môn phái Bình Định Gia ở Hà Nội qua đời vì một tai nạn giao thông. Tôi cũng quen biết với anh bạn trẻ này và đã từng xem anh cùng các đồng môn của mình trình diễn võ Bình Định một cách rất ấn tượng. Vì thế, võ sư họ Đỗ nhờ tôi viết lời ai điếu và đọc trước cả mấy trăm võ sinh trong ngày tang lễ.

Sau lễ tang, võ sư họ Đỗ nửa đùa nửa thật nói với tôi rằng: “Bác quen làm tổng thư ký hội hè, có khi bác giúp chúng em giữ cái chân tổng thư ký hội võ được đấy!”. Tôi rằng mình có biết võ vẽ gì đâu? Thì anh đáp gọn lỏn hai chữ... “võ mồm”.

Sau những ngày dự Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền tại đất võ Bình Định, tôi viết bài báo này để nói về cảm xúc của mình đối với một di sản văn hoá đặc sắc mà chắc chắn sức hiểu của tôi còn rất nông cạn, cũng là để nhớ đến người bạn võ họ Đỗ ra đi đến nay đã gần một thập niên.