Lên nương xem bò trại

Gặp nhau lâu ngày, Soong Giở vẫn nhận ra tôi. Mái tóc ông giờ đã bạc xóa như bông lau núi, nhưng sức vẫn khỏe tựa con voi rừng. Vừa ngồi xuống ghế chưa ấm chỗ, Soong Giở đã lên tiếng mời: “Đi với ta lên đỉnh Pứ Xay đi, lên đó uống rượu ngô và xem bò trại chơi”. “Bò gia đình ông nuôi à?”. “Không phải bò ta đâu, bò thằng Và Lúa Chả đó”.

Soong Giở đi trước tôi bám lưng đi sau, lách qua nhiều bụi cây rậm, chằng chịt dây leo chặn cả lối mòn cuối cùng tôi và ông đã đến trái núi với độ cao gần bốn trăm mét. Trước mắt tôi hiện lên những cây săng lẻ thẳng tắp, có cây đã tróc vỏ nhẵn bóng còn hằn vết dây thừng buộc bò. Tôi đứng dưới một gốc cây săng lẻ cổ thụ nhìn xung quanh, thấy màu xanh được phân thành lô thành khoảnh giống như nương rẫy người Dao ở Hoàng Su Phì. Chỗ này trồng gừng, trồng đậu, chỗ kia trồng lạc trồng ngô, vượt thung sâu khoảng năm mươi sải tay là một rừng gió trầm được lợp kín màu xanh đậm đặc theo hình xoáy trôn ốc.

“Trang trại của thằng Và Lúa Chả có tới 5ha đấy, nó trước nghèo nhất bản, bữa ni thì giàu rồi”. Và Lúa Chả nghe thế nói thêm: “Bộ đội biên phòng không chỉ giúp mình mà cả bản này đều được họ giúp. Nếu không có họ, bụng mình giờ vẫn héo như tàu chuối khô”.

Tôi và trưởng bản Soong Giở cùng ông chủ trang trại trải chiếu ngồi dưới ngôi nhà chòi, ăn ngô nướng và uống rượu ngô nướng của người Mông. Men rượu ngọt, bắp ngô thơm dẻo, câu chuyện làm ăn Và Lúa Chả càng xôm hơn.

Cách đây mười năm, Đồn trưởng cửa khẩu Cầu Treo - Võ Trọng Hải, trong chuyến công tác dài ngày tuyến ngoại biên, cùng với ba cán bộ đã “đến từng ngõ, gõ từng nhà”, mục đích tìm hiểu hoàn cảnh người nghèo bản Thoong Pẹ. Bản Thoong Pẹ có 320 gia đình người Mông sinh sống. Thời điểm ấy dân bản đã biết tập trung làm lúa nước, năng suất cao hơn làm lúa rẫy, biết đắp suối nước Nậm Hờ thành đập rồi đào mương dẫn nước tưới cho 243ha ruộng lúa. Tuy vậy, số hộ đói nghèo vẫn chiếm hơn một nửa.

Bản Thoong Pẹ hôm nay.
Ảnh: Đậu Bình 

Đồn trưởng Võ Trọng Hải đến thăm nhà Và Lúa Chả mới thấu hiểu nỗi nghèo tận đáy của một người khỏe như đô vật, nhưng trong nhà Chả chăn màn rách tướp, chưa đầy ba mươi tuổi vợ Chả đã sinh tới bốn mặt con, đứa bồng đứa dắt, mặt mũi nhem nhuốc.Vợ ở nhà, một mình Chả quần quật làm nhưng hạt gạo không đủ nuôi vợ con. Ngày hôm sau anh Hải nhờ trưởng bản dẫn anh đi khảo sát tiếp toàn bộ địa hình địa vật bản Thoong Pẹ. Thật không ngờ đất rừng bản này còn mênh mông, chỉ tiếc rằng người dân chưa biết làm ăn.

Sau chuyến đi ấy, Võ Trọng Hải tổ chức ngay một cuộc họp với toàn bộ cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị bàn về công tác giúp người dân bản Thoong Pẹ thoát khỏi đói nghèo bằng cách: Lấy nguồn quỹ từ đất rừng để người dân trồng trọt và chăn nuôi, lấy người nghèo nhất để bộ đội biên phòng “cầm tay chỉ việc”. Thế là Và Lúa Chả được đứng đầu trong danh sách người Mông nhận cây giống và vật nuôi. Đôi bò của Chả cùng với 50 hộ nghèo được hình thành bằng nguồn tiết kiệm mỗi tháng hai ngày lương của cán bộ, chiến sĩ biên phòng và các tổ chức kinh doanh quan hệ mật thiết với đồn cửa khẩu.

Đã qua bao mùa rẫy, đã qua mấy mùa trăng, Và Lúa Chả vẫn nhớ một buổi sáng tháng ba khi núi rừng quanh bản ngập tràn hoa nở trắng, đột nhiên thấy Thượng úy Nguyễn Ngọc Nguyên dắt một đôi bò vàng đến tặng cho nhà Chả.

Đôi bò bộ đội biên phòng tặng Và Lúa Chả, chỉ sau một năm đã sinh ra một con bê chạy cũn cỡn bên chân chủ. Sự trìu mến của con vật kiến Chả lại tin hơn vận làm ăn của mình. Chả siêng hơn cả con ong rừng, chưa sáng đã cầm rựa, cầm dao lên trang trại, có hôm trăng rải đầy thềm nhà Chả mới về. Và Lúa Chả nuôi bò mát tay lắm, trồng ngô, trồng gừng, trồng cà cũng mát tay. Đàn bò của Chả nay có tới 15 con, trong đó 8 con bò cái năm nào cũng sinh nở đều đặn. Một con bò được chủ chăm sóc, 9 tháng hay mười tháng tuổi, Chả đã có trong tay 10 - 12 triệu đồng. Trang trại Và Lúa Chả mỗi năm thu hoạch tới 4 tấn thóc, 2 tấn ngô, 1 tấn gừng. Tiền từ chăn nuôi và sản phẩm sạch ở trang trại đã giúp gia đình Chả xây được nhà sang, sắm được ô tô bán tải để chở hàng.

Từ mô hình trang trại của Và Lúa Chả, già làng Soong Giở chẳng cần tuyên truyền vận động, nhiều gia đình người Mông ở bản Thoong Pẹ tự nguyện lên trưởng bản xin nhận đất rừng, học theo cách làm của Chả.

Soong Giở cho tôi hay về sức làm ăn của dân: Cả bản hiện có 9 trang trại, trong đó có 5 chủ trang trại nuôi từ 8 - 12 con trâu bò, một số trang trại mỗi năm thu hoạch 5 - 7 tấn rau cải, ngô bắp, cà pháo và gừng. Một ông chủ có gan làm giàu từ kinh doanh dịch vụ và làm trang trại giàu có nhất bản là Và Nhia Thái (45 tuổi). Cả bốn cậu con trai cùng lên nương với cha. Và Nhia Thái xin nhận 7ha đất trồng rừng và phát triển chăn nuôi. Trang trại Thái không nuôi bò mà nuôi trâu, nuôi gà. Từ 15 con đến nay đã lên tới 30 con. Chuồng gà kết lưới thép B40 đủ chứa 1.200 con gà. Môi trường thanh sạch tinh khiết của rừng đã giúp trâu và gà của gia chủ ăn khỏe, lớn khỏe không bị nhiễm lây dịch bệnh. Soong Giở tiết lộ: “Cả bản Thoong Pẹ này chưa ai vượt Và Nhia Thái về thu nhập, vừa làm trang trại, vợ và con gái lại giỏi buôn bán tại chợ Lạc Xao.

Theo Soong Giở cho biết: “Bản Thoong Pẹ hiện nay có nhiều gia đình tậu xe ô tô. Dân bản đã dư thừa lương thực và rau màu, người nghèo nhất bản đến kỳ giáp hạt vẫn còn vài tạ thóc.

Ta không lo con ma bắt vì có trạm y tế rồi

Trạm y tế Thoong Pẹ nằm chót vót trên ngọn đồi cao, nhưng đường lên đã được bê tông hóa nên ô tô và xe máy vào tận cửa. Trạm có một phòng khám, ba phòng cho bệnh nhân nằm điều trị, một phòng bếp nấu ăn cho bệnh nhân.

Bác sĩ Nguyễn Viết Đức cho tôi biết: “Mỗi năm trạm y tế tiếp nhận hơn 2.000 lượt người đến khám, tiếng là trạm xá bản nhưng gọi là trạm xá khu vực Thoong Pẹ - Na Pê - Lạc Xao cũng đúng. Người ở Na Pê thường nghỉ lại để điều trị nhiều hơn người bản địa, nhưng dân bản chỗ ni lại lui tới thường xuyên. Họ đến khám rồi cầm thuốc cấp theo lời hướng dẫn của bác sĩ về nhà mình uống... Chỉ trường hợp không đi lại được người nhà dìu tới, họ mới chịu ăn cháo và tiêm thuốc bộ đội biên phòng”.

 

 Khám bệnh cho người Mông.

Chợt cánh cửa sổ mở toang, một người đàn ông nhìn ra hiên thấy tôi cười, tôi bạo dạn vào phòng ông. Trò chuyện một lúc biết tên ông là Xầu Bá Chay và bà vợ là May Hon ở bản Viêng Thoong, cách đây 150 cây số. Cả hai vợ chồng chuyên chở hàng tạp hóa cho chủ hàng ở chợ Lạc Xao, đang ăn ngon ngủ khỏe bỗng dưng chán ăn, chán ngủ, mắt vàng. Nhờ bộ đội khám mới hay mình bị viêm gan cấp. “Mình điều trị đây đã hơn một tuần lễ rồi. Bây giờ ăn ngon rồi, ngủ ngon rồi, chắc ngày mai họ cho xuất trạm. Mình chỉ áy náy một điều thuốc bộ đội cấp, cơm bộ đội nấu, nhưng khi đưa tiền ra trả họ chẳng lấy một đồng nào. Họ bảo nhà đang quá vất vả để tiền đấy bồi dưỡng cho lại sức. Bộ đội biên phòng quý hóa quá!”.

Dường như lời tâm sự của Xầu Bá Chay đã trở thành lời cảm ơn chung của hàng trăm người khi được tiếp xúc với đội ngũ thầy thuốc trong trạm. Đội ngũ đây thật đặc biệt chỉ có hai người: Đại úy, bác sĩ Nguyễn Viết Đức và y sĩ, thượng úy Nguyễn Văn Ân. Đặc biệt nữa ở đây không hề có khái niệm phong bao giữa người bệnh và người thầy thuốc. Nhưng người Mông rất thương bộ đội, khi họ mang chuối, mang gà tới biếu ngày lễ tết mà các anh không nhận thì họ giận lắm.

Từ ngày thành lập tới nay, Trạm Y tế Thoong Pẹ chẳng bao giờ vơi bệnh nhân, nên cả bác sĩ Đức và y sĩ Ân phải trực 24/24h. Nhờ trang thiết bị y tế được trang bị đầy đủ như máy siêu âm, sinh hóa, huyết học, khí dung nên càng tạo điều kiện thuận lợi cho các anh phát huy tay nghề, chẩn đoán nhanh và chính xác các bệnh hiểm nghèo, kịp thời giới thiệu lên tuyến trên điều trị. Người dân tộc do thiếu i-ốt nên thường hay mắc căn bệnh bướu cổ, đã có hàng chục trường hợp được các anh tận tình chở đi phẫu thuật ở tuyến trên đều thành công. Năm 2015 có 4 trường hợp phụ nữ Lào ở độ tuổi 25 - 40 mắc bệnh bướu cổ. Hai người ở bản Na Pê, hai người ở bản Noọng Ó. Đưa họ đi đã vất vả nhưng cử người đi cùng với người nhà để khi họ trở về an toàn khỏe mạnh lại càng vất vả hơn.

Xác định giúp đỡ bệnh nhân như chính giúp người thân trong gia đình mình, nên cán bộ trạm và Đồn cửa khẩu Cầu Treo không một phút nề hà. Suốt cả mười hai ngày chăm sóc chu đáo họ tại Bệnh viện quân y 4, cả bốn người phụ nữ kia giờ không còn cảnh cục bướu phình ra như quả ổi đào treo lòng thòng trước cổ nữa.

Trưởng bản Soong Giở bảo tôi: “Ngày trước không có trạm, dân bản “nhờ cậy” tới thầy mo “đuổi ma trừ tà” nhưng bệnh nhân vẫn chết dần, chết mòn. Hiện giờ thầy mo Sùng Bá Dùng cũng vứt áo thầy cúng từ lâu. Tháng trước lão đau dạ dày đến trạm điều trị, bác sĩ khuyên lão uống thuốc đúng liều và chịu khó kiêng bia rượu. Bây giờ da dẻ lão hồng hào lắm”.

Già làng Soong Giở cười, tiếng cười ông lan trong mùi hương giò phong lan người lính biên phòng đang nở trắng trước gian phòng ươm đầy nắng xuân.