Chuyện đời hỗn tạp xô bồ nhếch nhác ở một xóm ngoại ô, mà vẫn ánh lên ngọn lửa tình yêu cuối chiều của một cặp vợ chồng già hạnh phúc.

Chồng chết, người vợ già chỉ còn ê a tiếng hát vào những chiều buồn nẫu. Với cái nhìn xuyên thấu tận tâm can nhân vật, và một nỗi cảm thương ấm áp nghĩa tình, Nguyễn Mỹ Nữ đã dựng truyện thật chắc tay và kể chuyện thật thong thả, cảm động. Với nhà văn này, dường như đời sống đã phả vào câu chữ văn chương của chị một hơi thở ấm nóng, và hơi thở này không cần phải lấy nguồn cội từ các cuộc tình trẻ trung của nam thanh nữ tú thời hiện đại.

Tình thật già mới mang mang nỗi sầu thương, hun hút lặn sâu vào truyện như thế. Tiếng hát của bà lão chết chồng trong mỗi chiều buồn sẫm đã làm nẫu ruột nẫu gan người viết và lan truyền sầu cảm, nhớ thương sang người đọc. Đó phải chăng là điều còn lại thật ấm áp của truyện này? Nguyễn Thị Minh Thái

-  Tui đứng trong nhà dòm ra, thấy tỏ tường, bà còn cãi gì nữa.

- Ừ! Thì tao đó. Tao ném chuột chết từ trong nhà ra đó. Rồi sao. Rồi sao hử?

- Thì tui thấy, tui la cho cả xóm hay cái đồ heo qué, ăn ở dơ dáy quen. Cái thứ thúi dơ gì cũng quẳng ra đường.

- Chứ mày tôm cá không ươn, không sình, không dơ, không thúi chắc?

- Tôm cá đâu chứ tôm cá cơ sở của tui, không có kiểu đó đâu nghe!

- Ướp tẩm ba cái thứ đồ hóa chất quỷ quái đó, lấy gì ươn chứ?

- Ướp! Người ta ướp đầy trời đâu phải mình tui. Dám nói thịt heo nhà bà không ướp đi? Vô lò toàn heo nái, heo sắp chết mà chừng bỏ mối toàn heo cỏ, heo tơ. Sao hay dữ ta?

- Đừng có gieo tiếng bất nhơn cho nhà tui nghe. Tui thà mang tiếng dơ dáy còn hơn mấy người sạch sẽ mà làm ba cái chuyện ác ôn.

Cuộc kình cãi còn kéo dài nữa, nếu không có Ba Ngư ra, cầm, cái đuôi chuột và cứ xách con chuột đó, đòi dí họng Sa heo và Minh hải sản. Tôi hết sợ chuột, từ hồi trằn mình về làm cư dân khu vực này. Vì thấy hoài và đôi hồi cũng phải đeo khẩu trang cắn răng bịt miệng để dọn. Chứ người ta ném trúng hè nhà mình, ngay phía trước nhà mình mà để chình ình vậy, chịu sao được. Mỗi lần vậy là không cách gì ăn uống cho nổi! Dọn chuột cỡ chiều, bỏ có một bữa tối với ly sữa nóng giấc khuya. Dọn sớm mai coi như bỏ nguyên ngày.

Bởi đó, tôi hay qua nhà Ba Ngư năn nỉ dọn giùm rồi dấm dúi cho ít đồng mua xị rượu, gói thuốc. Ba Ngư trong đội mai táng cấp thành phố và chuyên phụ trách việc khâm liệm. Nói ông lo giùm chứ chương ướng vậy, đi ra phải dòm rồi đi vô phải thấy, tôi ụa không cũng đủ rát họng khô ruột rồi. Thằng chả thường giãy nảy: “Tui lo cho con người chứ không rảnh đâu lo cho chuột nghen”. Làm le vậy, chứ mà cũng chịu nhét tiền vô túi rồi ra quán Lệ già làm ít ly, hút cho rồi điếu thuốc và xắn tay áo làm. Nói, tôi phải có chút nước cay để súc họng với chút khói thơm để khử mùi, mới kham nổi. Cha này bị tật ghiền rượu. Uống không nhiều nhưng lai rai miết nhất là cữ sáng. Ngủ qua đêm, trở dậy, không có dăm ba ly là tay run và mồ hôi đổ tháo. Ớn lắm! Sáng nay, chắc có nước chân rồi nên Ba Ngưu mới hù nhát xăng xái tới cỡ đó. Mới khiến mụ Tư Sa và con Minh hải sản chết điếng, lật đật khép mỏ và vội vã chạy vô nhà. Tôi đem ra mấy tờ báo và hai bì nylon:

- Thôi! Đã sẵn xách cái đuôi, ông lo giùm cả bộ mình nó nghe.

- Không tui thì ai vô đây nữa hử, trời!

Xóm tôi là vậy đó! Toàn dân lao động nên không cách gì thoát ra được sự nhếch nhác và những xô bồ. Đàn ông đi biển, đóng ghe, chạy xe thồ… Đàn bà bán cá mắm ở chợ, dưới bến rồi bán bún, bánh canh... Cách sống hỗn tạp nhưng được cái thật thà, chân tình. Hồi đầu mới dọn về sống, vợ chồng tôi cũng có ái ngại sau rồi quen rồi thân. Họ sống kiểu họ và mình sống kiểu mình. Chứ còn làm ảnh hưởng tới nhau thì nhiều lắm. Tụi tôi đâu mấy khi chứ họ ngày một. Chẳng hạn như thường xuyên ném chuột và đồ dơ ra đường. Chẳng hạn như chuyện ồn ào. Nhà tôi, hồi bạn bè đùm túm mà lỡ uống nhiều và có ai đó to miệng, mới ì xèo làm phiền chòm xóm chút đỉnh. Chứ quanh đây, mỗi nhà một kiểu làm ồn. Cặp trẻ đánh đập theo trẻ. Vợ chồng già kình cãi theo già. Mà vùng này sao nhiều người già?

Tôi luôn nghĩ: Vợ chồng hồi trẻ có hay mâu thuẫn, cãi lộn còn đỡ bởi dù sao cũng còn những tình cảm nồng nàn đắm say bù đắp, níu giữ. Nói vậy chứ giữa khi mặn nồng gối chăn, người ta dễ quên được nhiều điều phiền lụy. Người ta không ghim gút những gì là sai trái của nhau nên có thể tha thứ. Những người trẻ thường thiếu lòng bao dung cảm thông nhưng lại xuề xòa, dễ bỏ qua. Ngược lại người già tuy thấu đáo lẽ đời, hiểu nhiều về con người nhưng lại hay chấp nhặt, bắt bẻ. Chắc là vậy nên xóm đây có dăm, bảy cặp đã sống được với nhau cho tới tuổi già xế bóng mà cứ lục đục hoài. Tôi không rõ lắm, hồi trẻ họ đã sống như thế nào mà, đến lúc cần nhất sự yên ổn để có thể thảnh thơi, đi hết đoạn đường đời họ lại thường xuyên cặng đắng. Bác Vinh sát bên nhà tôi thì đôi co miết về chuyện đồ ăn. Răng bác gái còn chắc nên kho thịt cứng, hầm xương cứng... khiến bác trai nhai nuốt khó khăn. Thế là gây. Gây qua gây lại, làm các con (cũng ở sát bên) phải nhào vô can thiệp. Các con đề nghị: Vậy ba cứ nấu ăn theo ý ba đi. Và bữa cơm do ba nấu, cái gì cũng mềm chảy ra nước, theo kiểu nói của bác gái và lại gây. Cuối cùng, bác trai nấu ăn một tuần và bác gái một tuần rồi cứ vậy luân phiên. Vợ chồng tôi, cứ nghe ai khai chiến trước là biết người đó bị tước quyền đứng bếp và ngược lại.

Câu mâu, trả treo, móc mỉa, đá thúng đụng nia riết vợ chồng bác Tâm ở cuối xóm đành ông nhà trước, bà nhà sau. Ông ăn cơm của con dâu nấu, bới vô cà mèn đem tới một lần nhưng phải ăn cả ngày. Để cho tiện, thực đơn luôn gói gọn trong hai món là canh với đồ mặn. Ông ăn, ngán tới mức muốn bỏ bữa. Đã vậy bà còn trêu ngươi nấu, xào, nướng, chiên gì mà thơm điếc mũi. Vậy là gây. Ông nói bà là đồ ác độc, ích kỷ chỉ biết có mình không nghĩ tới ai. Bà kêu ông là đồ làm biếng chảy thây, muốn ăn ngon sao không chịu lăn vô bếp. Tôi nhiều lần qua chơi gặp bữa, thấy sao kỳ! Ông và một góc phòng với miếng cơm nhai nuốt trệu trạo trong miệng. Vì cơm nguội, thức ăn dở đã đành mà vì còn phải lụi cụi ăn có một mình. Nhưng còn bà? Đồng ý là cơm dẻo canh ngọt, cá tôm nóng sốt nhưng áng chừng bà ăn cũng quá... trật trầy. Chắc cũng do lủi thủi ăn có một mình. Vợ chồng già hơn thua nhau, có chút êm ấm hạnh phúc ở chặng cuối cuộc đời mà phải chịu cảnh như thế này. Đúng là xót xa quá!

Hai

Dòm qua, ngó lại mấy cặp già ở xóm tôi coi như bỏ không. Ngoại trừ vợ chồng bác Năm Đào. Bác gái đã trên bảy mươi nhưng vẫn còn khỏe mạnh lắm. Đã quen buôn bán từ hồi nhỏ nên giờ, bác vẫn ra chợ mỗi ngày. Bác nói, cứ ở không là muốn bịnh. Bác trai trên tám mươi, đã yếu nhiều. Bác gái đi bán đâu từ hồi mờ sớm, tới khoảng hai ba giờ chiều mới về. Bác trai đợi tới lúc vợ về mới cùng ăn cơm, sau đó nghỉ ngơi. Chiều nào cũng vậy. Khoảng 5 giờ chiều có một chiếc xích lô lại đón tận nhà. Vì cả hai người đều hơi mập, nên không ngồi được hết ở ghế trên. Vậy là bác trai ngồi trên, bác gái ngồi dưới và ôm lấy đôi chân bị yếu của bác trai xoa bóp, suốt đường đi. Có lần gặp bác đi chợ về, tôi hỏi hai bác đi đâu mà chiều nào cũng đi hoài vậy. Bác nói, bữa xuống công viên biển, bữa ra bờ hồ. Cốt yếu là để cho ông vừa hít thở không khí trong lành vừa tập đi nhúc nhắc vì sợ đôi chân bị liệt. Chứ tao mạnh khù vầy, lo gì?

Có lần, bác Năm nói với mấy người trong xóm: Thường đàn ông mới ngáy to còn vợ chồng tôi thì trái ngược. Bà vợ tôi ngáy vang nhà chứ mà tội! Bà bán buôn lăn lộn suốt ngày ngoài chợ. Rồi còn về lo cho chồng từng chút, từng chút một. Nên đêm mệt đừ ngủ say như chết. Mà tôi quen rồi. Quen mấy chục năm rồi. Không có tiếng ngáy của vợ, thấy người bồn chồn, hồi hộp, lo sợ sao đâu! Mình có ngủ cũng là ngủ trong tiếng ngáy của bả. Có thức cũng là thức trong tiếng ngáy. Thấy vui lắm! Nhẹ nhõm trong người lắm! Thật khó để gặp được đâu đó trong cuộc đời này, chứ đừng nói chi tới cái xóm hỗn tạp đây, một đôi vợ chồng già mà còn thương yêu, quấn quýt nhau đến vậy.

Hôm nay như mọi buổi sáng, vợ chồng tôi bị đánh thức bằng tiếng hát rề rà, nhễu nhão của bác Năm, vọng tới tận chỗ nằm. Trời mới đầu thu và có hơi se lạnh vào buổi sớm. Tôi choàng qua người chồng tấm mền đắp và thở dài. Chồng tôi cũng lăn trở cả đỗi mới mở lời. Giọng ngùi ngùi:

- Cái kiểu này chắc bác Năm thức trắng đêm.

- Ừ! Người già vốn khó ngủ.

- Mình mới tuổi sáu mươi mà còn trằn trọc miết…

- Ngủ không được đêm dài lắm. Không muốn suy nghĩ cũng phải nghĩ suy.

Rồi ngay chiều đó, mới hơn hai giờ nên có nhà còn đang ngủ giấc trưa, cả xóm đã phải thất kinh vì một vụ ẩu đả. Thật may không có ai bị gì. Và hư hại cũng chỉ có mấy cái ly uống rượu, một cái tô đựng mồi, một cái đĩa đựng rau. Xảy ra cơ sự đây cũng do hết thảy mọi người trong cái xóm nhỏ này đều có chung một sở thích là hát karaoke. Nhà khá giả sắm dàn đồ tốt, nhà đỡ đỡ sắm dàn đồ tàm tạm, nhà không tiền qua nhà kế bên hát ké. Cứ vậy mọi người cùng hát, nhà nhà cùng hát. Quý ông sần sần, hát nghe khê nồng hơi men, trật nhịp sai lời tùm lum. Các bà vợ hát hùa, giọng rệu rạo hơi chợ búa cá mắm cũng sai lời trật nhịp không kém. Trong tất cả, không có thứ tự lớp lang gì hết là giọng hát như đánh vần của bác Năm. Đó! Đó! Cũng vì cái tiếng hát không giống ai của bác, mà sớm nay vợ chồng tôi đành thức sớm. Và cái đám nhậu ở nhà đối diện chửi bới nãy giờ. Tụi nó uống cũng đã rồi đang tính hát… Mà… Tức quá. Một thằng trong bọn lên tiếng:

- Có đứa nào rảnh không?

- Chi?

- Qua nói mụ già dịch bên đó khép mỏ giùm cho tụi này cất giọng chứ!

- Ừ! Để tao qua. Già không lo ngủ nghỉ cho khỏe người. Bày đặt hát hò mà hát như… chó sủa.

- Ừ! Phải biết phận già của mình. Ca hát chơi bời là chuyện của lũ trẻ chứ bộ. Già mà còn không nên nết.

- Ừ! Để tao qua. Làm cho bả một trận tắt tiếng luôn.

Lời qua tiếng lại tới đó thì nghe tiếng thằng Dũng, chủ nhà, hét lên: “Im” và tiếng ly chén gì đó bị đập bể. Rồi tiếng kình cãi. To nhất dữ dằn nhất vẫn là tiếng của thằng đây:

- Tụi mày mà qua bển, đụng tới bà bác đó là chết với tao chứ không phải giỡn đâu.

- Chứ con mẹ đó là bà cố nội mày há?

- Mày nói ai là con mẹ. Đó là bà bác chòm xóm của tao.

- Có bà bác của mày mà hát trêu ngươi kiểu đó là tao cũng phang luôn.

- Bác hát vậy chứ có hát dở hơn nữa, cũng được. Bay không muốn nghe thì bịt lỗ tai lại mà lo uống lo ăn.

- Mà tụi tao muốn hát. Vừa nhậu vừa hát uống mới được nhiều. Mới sướng.

- Thì tụi bay về nhà mình mà hát.

- Vậy đứa nào gọi điện rủ tụi tao lại nhậu, hử?

- Tao. Mà giờ bay đòi quậy bà bác đây thì giải tán, biến gấp!

Không nghe tiếng trả lời, chỉ thêm mấy tiếng chửi thề và tiếng xáng đồ. Rồi sau đó, cả xóm trở lại sự im lặng. Chỉ còn duy nhất tiếng hát lập rập, lễnh đễnh của bác Năm. Cũng mới đây thôi xóm tôi mới có cái sự nhường nhịn lạ thường này. Lạ, bởi nghe tiếng bác hát là nhà nào đang hát dở dang, cũng phải tự động tắt máy. Mà tính hát là khỏi hát luôn. Như cái đám nhậu bên nhà thằng Dũng đó. Vùng này cũng có mấy giọng hát karaoke hay lắm chứ. Thằng Trung hát nhạc tiền chiến, nhạc trữ tình không có đối thủ. Chị Phượng hát boléro ngọt ngào ướt át lắm kìa! Vậy mà các danh ca của xóm cũng đành nín làm thinh nói gì đám ca sĩ ruồi bu. Mà cũng hay bởi hồi giờ, tôi để ý, phải có bạn bè hay anh em trong nhà xúm xít lại mới hát được. Đây bác Năm không cần có ai vẫn hát say sưa. Hát quên giờ giấc. Cứ một giọng ỉ on, ê a không lên cao cũng không chịu xuống thấp. Cứ thẳng băng vậy à! Bác Năm trai, có lần nói vui với mọi người trong đám giỗ nhà thằng Hậu, là bà vợ tôi mê làm ca sĩ từ hồi nhỏ xíu. Nhưng tội! Trời không cho chất giọng tốt nên chỉ làm ca sĩ cho chồng thôi! Mà chồng đây? Vợ ngáy cũng ưa mà vợ hát càng ưa hơn nữa, có điều, vợ mắc cỡ đâu chịu hát. Thôi không hát cũng còn ngáy. Chứ lỡ bả đứt bóng, tui nhớ tiếng bả lần quần riết chắc khùng.

Ba

Nỗi lo xa của bác Năm đã không thể xảy ra vì người đứt bóng, đã bị hoán đổi. Bác bị tai biến mất cả nửa năm nay và tính từ thời điểm đó, vợ bác bắt đầu tìm tới chuyện hát xướng. Hàng quán ở chợ bác đã giao lại cho con dâu, ngay sau khi chồng qua đời, nên thời gian ở không của bác dày đặc và bác hát, bất cứ lúc nào có thể. Sớm mai vừa thức dậy, ngủ trưa xong và chiều và tối. Có người cắc cớ hỏi: “Ổng chết không rầu sao karaoke miết?”. Bác lặng thinh một chặp rồi trả lời, giọng đứt vụn dù chỉ có mấy từ: “Có ổng mắc cỡ sao dám hát?”. Nếu hỏi thêm nữa, bác sẽ nạt ngay: “Hết người lo, không có công chuyện làm, rảnh hát chứ sao”. Chỉ một, hai người tra vấn bác kiểu đó còn số đông là thương cảm. Ai cũng ngẩn ngơ và ngõ trên, hẻm dưới ngậm ngùi và cả xóm xao xác, sau cái chết của bác trai, mọi sự chú tâm đều hướng vô bác. Gần gụi nhất là mấy người cao tuổi.

Ngoài chuyện thường qua lại thăm nom, chia sẻ với người ở lại, tôi để ý thấy mấy cặp vợ chồng già ở xóm tôi tự nhiên hết gây gổ, kình cãi. Chắc vợ bác Vinh đã biết nấu đồ ăn mềm như nước để cùng húp với chồng. Thì bác ấy nói vậy mà. Bác nói hầm nhừ vậy khỏi phải trệu trạo nhai. Khỏe. Còn bác Tâm? Không thấy con dâu xách cà mèn đồ ăn tới nữa. Chắc hai người đã ăn chung và thôi thì, có trầy trật thì cùng nhau trật trầy. Rồi vợ chồng bác Pha? Bác Tình? Tôi mừng cho tất cả trong mông mênh nỗi buồn của riêng mình. Bởi, nhận ra chiều mất hết ý nghĩa… Những chiều không còn cái xích lô chở hai người già rất tâm đầu ý hợp, đi ngang nhà. Mà, thay thế bằng một tiếng hát đục ngầu và đơn côi, thao thiết…

Đã nói bác Năm hát, bất kể, và trong tất cả những cữ hát của bác, tôi ớn ngại nhất là lúc chạng vạng. Có thể vì chút thời gian mong manh đó, khi ngày chưa qua hết và đêm chưa tới kịp, thường rất dễ chạnh lòng. Có thể ở chính sự hoang trống nghẹn ngào, ngay trong giọng hát của bác, vào những khoảnh khắc như vậy khiến cho mình nẫu hết cả ruột gan. Luôn là một cảm giác u xám não nề buông rủ, phủ trùm lên không gian vây quanh mình và cuốn rịt lấy tâm trí. Quãng ngày họ còn có đôi, vợ chồng tôi có cái thú là, chiều chiều, ra phía trước ngó hai người một chút. Không ngó được họ hồi đi, cũng ráng canh để ngó họ hồi về. Làm như phải nhìn họ, tươi tỉnh, với kẻ ngồi trên kẻ bên dưới, tình tứ, tụi tôi mới ăn cơm ngon lành, mới ngủ giấc đêm yên bình hay sao! Mất thói quen ra ngồi nơi mái hiên nhà, những hoàng hôn, là mất đi bao nỗi vui những ấm áp cuộc đời.

Và những sẫm chiều, bây giờ, sao lòng cứ mãi vướng víu trở trăn. Bởi còn đó và vẫn vọng đưa đến tận ngôi nhà tôi tiếng hát ê a, ê a của chỉ một người.

Tên thật: Nguyễn Thị Mỹ Nữ

Sinh ngày: 24.12.1955

Nguyên quán: Thanh Liêm, Hà Nam. Trú quán: Quy Nhơn,

Bình Định, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Đã xuất bản: “Mắt núi” (Tập truyện ngắn, NXB Kim Đồng, 2004); “Món quà của mùa hè” (Tập truyện ngắn, NXB Kim Đồng, 2007), “Những câu kinh chấp chới” (Tập truyện ngắn, NXB Văn nghệ, 2008); “Tiếng hát liêu điêu” (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2013).