Việc này cần  55 đến 60 ngàn tỷ đồng và không thể bố trí được ngân sách. Thu ngân sách gặp khó khăn, một hậu quả dễ hiểu của tình hình kinh tế sa sút. Rồi trước sức ép của dư luận, Bộ Tài chính cũng đã bố trí được 20.700 tỷ đồng đủ cho việc tăng lương tối thiểu thêm 100.000 đồng lên 1,15 triệu từ tháng 7.2013.

Sau đó dư luận lại rộ lên về việc Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) phải nộp 10.000 tỷ đồng vào ngân sách. Thực ra khoản 21.000 tỷ đồng mà Petro Vietnam phải nộp vào ngân sách đã được nhắc tới từ đầu năm 2012, đến nay Petro Vietnam đã nộp 1.000 tỷ và còn lại 20.000 tỷ. Khoản này cỡ bằng khoản 20.700 tỷ cho tăng lương tối thiểu của năm sau. Vậy 20.000 tỷ hay 10.000 tỷ mà Petro Vietnam phải nộp là khoản gì?

Sự mập mờ rắc rối này nảy sinh do sự không phân biệt rạch ròi cái gì là của ngân sách nhà nước và cái gì là của doanh nghiệp.

Sự mập mờ này được luật hóa trong điểm 2, Điều 32 Luật Dầu khí 2008: “Thu nhập từ hoạt động dầu khí sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được ngân sách nhà nước giao lại một phần hợp lý cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam để đầu tư phát triển các dự án dầu khí theo quy định của pháp luật”. Trước đó Điều 37 (đã bị bãi bỏ năm 2008) của Luật Dầu khí (1993) còn chi tiết hơn: “Theo thoả thuận trong hợp đồng dầu khí, thuế tài nguyên và các khoản thuế mà Nhà thầu hoặc Xí nghiệp liên doanh dầu khí phải nộp có thể được tính gộp vào phần chia sản phẩm của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, với điều kiện Tổng công ty Dầu khí Việt Nam cam kết nộp thuế tài nguyên và các khoản thuế đó thay cho Nhà thầu hoặc Xí nghiệp liên doanh dầu khí”.

Trước Luật Thuế tài nguyên (2009) nhà nước Việt Nam, với tư cách chủ sở hữu, đã được chia sản phẩm theo các hợp đồng hợp tác khai thác dầu khí. Sau khi Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực năm 2010, thuế tài nguyên thay cho phần chia sản phẩm. Riêng với liên doanh dầu khí Vietsovpetro nước chủ nhà được chia 50% lãi (sau thuế). Tất cả các khoản thuế, phí và phần chia lời này thuộc về nhà nước Việt Nam, là các khoản thu ngân sách. Các khoản thuế, phí được nộp cho ngân sách. 21.000 tỷ nói trên là một phần của các khoản đó và chủ yếu từ khoản chia lời của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro.

Sự rắc rối là sự không rõ ràng của (Điều 37 và) Điều 32 kể trên của Luật Dầu khí (1993 và) 2008. Nếu khoản thuế như vậy Petro Vietnam chậm trả hay không trả thì đó là hành vi vi phạm Luật Quản lý thuế và có thể bị phạt 0,05%/ngày tính trên số chậm nộp, thậm chí có thể bị truy tố theo Luật Hình sự.

Thế nhưng Petro Vietnam có thể viện vào các điều trên của Luật và “mặc cả” với chính phủ về phần “được ngân sách giao lại” đó. Phần “hợp lý” được chính phủ quy định là 50%.

Như thế số Petro Vietnam phải trả ngân sách năm 2012 là 10.500 tỷ. Do đã trả 1.000 tỷ nên còn phải trả 9.500 tỷ nữa. Nếu không trả đúng hạn khoản này thì sẽ vi phạm luật quản lý thuế.

Nhưng cũng cần bàn cả về khoản 10.500 tỷ để lại cho Petro Vietnam.

Giả như Petro Vietnam là một công ty tư nhân, thì do nhà nước không tái đầu tư cho tư nhân nên toàn bộ các khoản thu thuế tài nguyên, phí về dầu khí cũng như phần chia cho nước chủ nhà hoàn toàn thuộc về ngân sách nhà nước, được nộp vào kho bạc nhà nước và tất nhiên được hạch toán như các khoản thu ngân sách.

Rắc rối và nguồn của sự không minh bạch là Petro Vietnam là tập đoàn kinh tế nhà nước và có khoản 2 Điều 32 của Luật Dầu khí (2008). Nếu tỷ lệ để lại cho Petro Vietnam là 50% thì có nghĩa là nhà nước Việt Nam đã liên tục tái đầu tư cho Petro Vietnam một nửa số thu dầu khí qua Petro Vietnam trong suốt thời gian qua.

Cho đến nay nửa để lại cho Petro Vietnam được ghi vào ngân sách (ghi thu rồi ghi chi ngân sách như khoản đầu tư cho Petro Vietnam), đúng với thông lệ kế toán và cũng đúng với tinh thần của điểm 2 của Điều 32 của Luật Dầu khí.

Báo chí cho biết Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đề nghị khoản để lại này sẽ không ghi vào ngân sách từ 2013 trở đi và Petro Vietnam được quản lý và sử dụng khoản này và tự chịu trách nhiệm trước Chính phủ. Tôi cho rằng phải xem xét lại đề nghị này vì nó vi phạm luật và chỉ làm cho sự minh bạch vốn đã ít sẽ còn tồi hơn nữa.

Sở dĩ có sự lằng nhằng, mập mờ và thiếu minh bạch khiến người dân khó hiểu, thậm chí các đại biểu quốc hội cũng không rõ, là do không có sự phân biệt rạch ròi cái gì thuộc nhà nước và cái gì thuộc doanh nghiệp (dẫu là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100%).

Giả như Petro Vietnam là công ty tư nhân, thì khó có sự nhập nhằng đó và nhà nước sẽ được lợi hơn nhiều. Có lẽ do nhà nước vẫn muốn khu vực kinh tế nhà nước làm chủ đạo, vẫn muốn có các tập đoàn để làm công cụ điều hành, không thật rạch ròi giữa nhà nước và doanh nghiệp (và đấy là một nguồn gây ra tham nhũng rất lớn) nên mới có hiện tượng này hay sự thiếu minh bạch được luật hóa như vậy.

Đâu chỉ có Petro Vietnam mà còn có nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước khác (ngoài Vinashin và Vinalines) mà nhân dân và các đại biểu quốc hội phải luôn để mắt đến.