Phan Tại (phải) và hoạ sĩ Tạ Tỵ (1950).

Nhưng điều khiến chị xúc động pha chút nuối tiếc hơn là ông chủ tịch còn cho biết rằng, trước ngày ông thân sinh của chị qua đời hơn một giáp thì chính ông  nhận được yêu cầu của cấp trên đến tìm hiểu hoàn cảnh sống của cha chị và tìm giải pháp để ông có cơ hội trở lại với những công việc của mình. Chỉ tiếc rằng, vào thời điểm đó, người cha vất vả của chị đang phải lặn lội vào Nam để kiếm sống. Thông tin không đầy đủ khiến ý định tốt đẹp có thể làm thay đổi cuộc đời người cha thân yêu của chị đã khép lại vào quên lãng, cho đến lúc này- khi ông đã qua đời 8 năm, mới được nhắc lại như một sự an ủi với người con còn sống.

Thân sinh ra người phụ nữ năm nay đã ngót 70 tuổi ấy là một con người tài danh nhưng danh phận lại... đầy trắc trở, đó là nghệ sĩ Phan Tại (1920-2007). Nói đến lịch sử điện ảnh Việt Nam, người ta có thể nhắc đến bộ phim "Kim Vân Kiều" làm ra từ những năm 20 của thế kỷ trước có liên quan đến nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, nhưng đó là phim do một hãng của người Pháp tổ chức; hoặc bộ phim "Cánh đồng ma" có dấu ấn của nhà văn Nguyễn Tuân làm ở Hồng Kông, nhưng không thành...

Phải đến thập kỷ 50, ở vùng "tạm chiến" những người Việt mới nỗ lực làm ra những bộ phim của nước mình, giữa lúc phim Mỹ đang tràn ngập các rạp. Sau hai phim có vai trò của nữ nghệ sĩ cải lương Ái Liên "Phạm Công Cúc Hoa" và "Kiếp hoa", thì Phan Tại chính là người thực hiện bộ phim màu đầu tiên tại Sài Gòn, phim "Bến cũ"(1953). Bộ phim được đưa ra Hà Nội trình chiếu rồi cũng là phim Việt Nam đầu tiên được qua Pháp giới thiệu... Chẳng bao lâu sau đó thì Hà Nội giải phóng.

Phan Tại quê ở Hưng Yên, con một gia đình khá giả nên từ Trường Trung học Thăng Long, ông sớm được nhập học ngôi trường danh giá đương thời là Trường Mỹ thuật Đông Dương. Khoá của ông khai giảng vào đúng lúc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cho nên không mấy người trọn vẹn theo nghề. Diệp Minh Châu, Phạm Khanh theo tiếp nghề hội hoạ, Đặng Thế Phong bị hút vào âm nhạc...; còn chính Phan Tại thì lại "lạc" sang kịch nghệ.

Phan Tại đến với sân khấu bắt đầu từ cây cọ để vẽ bài trí cho một vở kịch kháng chiến của đoàn kịch do nhà văn Đào Vũ chỉ huy. Lúc đó ông đang rơi vào cảnh túng quẫn của một công tử vốn con nhà giàu, không biết làm ăn để vốn liếng của cha mẹ cạn dần, lại thêm vợ chết đúng vào ngày Cách mạng thành công (19.8.1945), rơi vào cảnh một mình gà trống nuôi con. Thế là kịch nghệ kháng chiến của Sở Văn hoá Hưng Yên đã cuốn ông vào dòng chảy của thời cuộc.

Thực ra, trước đó, ông đã nuôi mộng lập đoàn với nhiều người bạn trẻ noi gương một thế hệ những người làm nên một thời kỳ sân khấu kịch khá sôi nổi trong đời sống xã hội trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Phan Tại luôn đặt cho mình câu hỏi về hiện tượng vì sao một ông Tây tên là Claude Bourin, sau này là tác giả một thiên ghi chép theo kiểu biên niên sử những sự kiện văn hoá của xứ Bắc Kỳ (Vieux du Tonkin), người đã tự thành lập một ban kịch đi diễn khắp các tỉnh, kể cả ở vùng trung du vẫn đông khách xem? Chỉ có điều người mê kịch ở nước ta thì không có tiền và đã bước chân vào chốn này chẳng khác nào bước chân vào sòng bạc, phải ''đen đỏ'' với nghiệp chướng của kẻ phá gia.

Trước Cách mạng là những cuộc chơi đầy phiêu lưu, sau Cách mạng là một cuộc dấn thân gắn sân khấu với kháng chiến đầy thử thách mà chính Phan Tại và đoàn kịch của ông đã có mặt trong sự kiện quân Pháp gây hấn tấn công vào Nhà hát thành phố Hải Phòng- nơi đoàn đang có chương trình biểu diễn. Tám nghệ sĩ của đoàn đã hy sinh trong cái ngày 11.11.1946 máu lửa ấy. Và chính ông Võ Nguyên Giáp phải thân xuống Hải Phòng để dàn xếp với Pháp chấm dứt cuộc đụng độ báo hiệu chiến tranh là điều khó tránh khỏi. Về sau này, Phan Tại có dịp gặp Đại tướng để bàn đến việc đi quy tập phần mộ của các liệt sĩ - nghệ sĩ thuộc thế hệ đầu tiên tham gia kháng chiến chống Pháp hy sinh tại Nhà hát thành phố Hải Phòng .

Ông tiếp tục vừa theo nghề sân khấu của một đoàn văn công tỉnh, vừa lo việc gia đình cho đến khi chiến tranh lan rộng, rồi sau một trận càn, tan đàn sẻ nghé, ông bị quân Pháp dồn về Hà Nội. Tại đây, ông lại có cơ hội gắn với sân khấu cùng các bạn diễn trong thành như Sỹ Tiến, Trần Khánh, Bích Hợp... như được thể hiện một cách kín đáo hoàn cảnh của mình với những đồng nghiệp đang tham gia kháng chiến ngoài "vùng tự do".

12 kịch mục ông và các bạn đồng nghiệp trong gánh kịch "Hoa Quỳnh" phần nào nói lên điều đó. Ngoài vở kịch diễn về sự tích Đức Phật gây tiếng vang rất lớn, là những vở như "Tiếng trống Hà Hồi" của Hoàng Như Mai, "Tâm sự kẻ sang Tần" của Vũ Hoàng Chương, "Người bán kiếm" của Văn Phú, "Bến nước Ngũ Bồ" của Năng Hiền, Hoàng Công Khanh... mà vở kịch nào Phan Tại cũng tham gia không chỉ với vai trò đạo diễn, đã mang lại một sức sống văn nghệ lành mạnh ngay trong vùng "tạm chiếm"...

Rồi đến ngày- như ông viết trong hồi ký của mình: "Rồi ngày tiếp quản thủ đô rực rỡ cờ sao, chúng tôi: Trần Khánh, Hữu Độ, Trịnh Thịnh, Dương Quảng thắng bộ đồ đẹp nhất đi đón Bác Hồ". Những tên tuổi đi cùng ông sau này mọi người đều biết đến là những ca sĩ, kịch sĩ tên tuổi...

Những năm tháng hoà bình và giải phóng đầu tiên lại thôi thúc ông dấn thân vào nền sân khấu mới. Một danh sách các kịch mục được thống kê lại cho thấy những vở kịch ông đứng ra dàn dựng và đôi khi tự mình sáng tác cố theo kịp với những thay đổi của thủ đô sau ngày giải phóng. Bên cạnh những vở kịch lấy đề tài Việt Nam, ông cũng dựng và biến tấu cho phù hợp với công chúng trong nước những vở kịch nước ngoài, như của Liên Xô ("Cảnh giác"- ca ngợi tình báo Xôviết), của phương Tây ("Cái thật của Mỹ" của Jean Paul- tố cáo chế độ tư bản)... rồi đề tài trong nước gắn với đấu tranh chống địa chủ ("Con trâu"); tố cáo Mỹ-ngụy ("Hướng sao Bắc Đẩu" viết về vụ đầu độc Phú Lợi), rồi những vở hiện thực phê phán như ''Kim tiền'' của Vi Huyền Đắc...

Nhưng dường như những nhiệt huyết với nghệ thuật của ông không ăn khớp được với những thay đổi quá lớn lao của nền nghệ thuật mới... Ông dựng vở "Thầy Tú" phỏng theo kịch bản "Topaze" của tác giả người Pháp Marcel Pagnol, trong đó có chi tiết nói về một ông giáo nghèo không có tiền mua găng tay vì giá rét của phương Bắc. Phan Tại muốn dành cho công chúng phương Nam của mình một cách nhìn gần gũi nên biến tấu cái găng tay thành cái xe đạp- một vật dụng quý giá của mọi công chức, hồi đó thường phải bình bầu, phân phối mới có được. Vở kịch diễn nhiều lần được công chúng tán thưởng. Nhưng rồi một bài báo trên một tờ báo quan trọng khi đó phê phán rằng, cái chi tiết ấy có ý ám chỉ gì gì đó... Thế rồi, không những vở kịch trở thành "có vấn đề" mà người dựng vở kịch đó cũng "có vấn đề"...

Câu chuyện của một thời ấy nay đã thành dĩ vãng muốn khép chặt, chính Phan Tại sau này cũng không mấy khi nhắc lại. Trong hồi ký để lại, hầu như không thấy nhắc tới mà chỉ lưu lại một hiện vật mà ông vẫn giữ được là tấm giấy mời do bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch Uỷ ban Hành chính thành phố Hà Nội - mời ông Phan Tại đến dự buổi chiêu đãi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào 18h30 ngày 19.11.1956 tại 12 đại lộ Ngô Quyền (nay là Nhà khách Chính phủ).

Hồi ký của Phan Tại không thấy nói đến cái khoảng cách thời gian 13 năm, mà chỉ có cô con gái của ông được ông kể lại về những gì ông đã trải qua mà cho đến cuối đời, ông cũng chỉ ý niệm bằng một câu hỏi "vì sao?"...

Rồi ông vẫn dành nỗi đam mê cho vở kịch cuối cùng mà ông cố mang hết sức đã già của mình để dàn dựng, đó là vở kịch dài chuyển thể tác phẩm "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng, tác gia tài hoa mà chúng ta vừa kỷ niệm tròn 100 năm tuổi. Rồi vở kịch được  dựng thành công nhưng cũng không sống được lâu dài,vì dường như đời sống sân khấu bây giờ đầy tính toán kim tiền đã quá xa với thời sung sức được chơi kịch của ông.

Cuối cùng, cái tài ẩn của Phan Tại lại thức dậy, một phần vì nó giúp ông mưu sinh, một phần nữa là cách để ông có dịp tỉ mẩn ngẫm ngợi lại những kỷ niệm về một thời ông đã từng sống qua gương mặt của những người ông đã từng biết. Nhờ sự quảng giao- chủ yếu chỉ bằng trí nhớ, ông sáng tác phù điêu những gương mặt mà ông quý trọng, và đương nhiên cả những gương mặt khách hàng thuê làm để ông đủ sống bằng chính sức lao động và tài nghệ của mình.

Cả trăm tác phẩm phù điêu như thế ông đã sáng tác với những gương mặt nổi tiếng như học giả Nguyễn Văn Tố, các nhạc sĩ Đặng Thế Phong, Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao, Tử Phác..., các nhà văn như Nguyễn Tuân, Phùng Quán, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Đoàn Phú Tứ..., các nhà thơ như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Tú Mỡ, Tản Đà..., các hoạ sĩ như Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Năng Hiển, Nguyễn Tư Nghiêm..., các kịch sĩ như Sĩ Tiến, Kim Ngọc, Trúc Quỳnh v.v... Ông còn sáng tác bức tượng cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, và tượng đài "Công- nông- binh" dựng ở phương Nam, mà đến nay tên tuổi của tác giả  không còn được nhắc tới vì đã qua tay những người trung gian... Hơn hai chục bức phù điêu tặng Bảo tàng Hội Nhà văn nằm trong số di sản đó của Phan Tại.

Tôi không có cơ hội  được quen biết nghệ sĩ Phan Tại, nhưng luôn ấn tượng với vóc dáng của ông, đầu đội mũ, miệng ngậm tẩu, thong thả khi đi lại trên đường, yên ắng khi ngồi với đám đông, dù đám đông đó là những người thân thiết cùng thời, hay đám trẻ tuổi đáng con cháu. Tôi ngồi với ông duy nhất một lần trong căn buồng không rộng tại nhà trưởng nam của Văn Cao và ấn tượng về ông thật khó quên.

Vì thế, khi người con gái của ông kể lại câu chuyện khiến chị xúc động và cung cấp cho tôi một cuốn hồi ký chung lắp ghép những phần nguyên văn của cha với những điều mà người con muốn kể về cha mình, tôi hiểu rằng, đó chính là một phần lịch sử mà nghề nghiệp khiến tôi trân trọng. Và tôi thể hiện sự trân trọng ấy bằng bài viết ngắn cuối tuần này.

Tôi đã đọc lại cho con gái Phan Tại nghe, và chị nói với tôi rằng: Suy cho cùng, chị cũng chẳng thấy tiếc nữa cái cơ hội như ông Chủ tịch Hội Nhà văn nhắc lại chuyện xưa. Vì nếu có câu chuyện cổ tích mà nhờ cuộc gặp ấy cha chị đổi đời, thì hôm nay chẳng có câu chuyện Phan Tại với những bức phù điêu lưu lại bóng hình những người cùng thời đáng kính của ông...