Cựu binh Lê Hữu Thảo bên mộ Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phương.

“25 năm rồi, anh ạ…”

25 năm trước, tôi đang là học sinh THPT, được tin về trận hải chiến Trường Sa đúng vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Sáng ấy, bạn Lan lớp 12E bước lên sân khấu, mở đầu buổi lễ kỷ niệm bằng bài hát “Gần lắm Trường Sa”. Cả trường nức nở, chúng tôi nắm chặt tay nhau, điệp khúc mãi: “Trường Sa ơi, không xa đâu Trường Sa ơi…” Cũng ngày đó, chúng tôi đã gửi đến các chiến sỹ Trường Sa những dòng chữ thân thương nơi quê nhà, những lời hứa cố gắng học tập và tu dưỡng, cổ vũ các anh vững chắc tay súng… để rồi 25 năm sau, tôi mới có dịp được gặp một trong các chiến sỹ Trường Sa ngày ấy.

Tôi tình cờ biết anh qua mạng xã hội facebook, và thật bất ngờ biết anh là chiến sỹ Gạc Ma, một trong số ít người sống sót trong trận hải chiến không cân sức ở bãi đá Gạc Ma sáng 14.3.1988, do quân Trung Quốc nổ súng gây hấn. Anh bày tỏ nguyện vọng được viếng mộ thủ trưởng của mình – Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Phương. Tôi đã liên hệ với bạn bè ở Quảng Bình để anh được tròn ước nguyện. “Hà Tĩnh – Quảng Bình, có ngái ngôi chi, rứa mà mất đến 25 năm chú nờ. Hồi nớ vẫn biết anh Phương là người Quảng Bình nhưng không biết cụ thể ở xã mô, huyện mô” – anh Thảo rơm rớm nước mắt.

Một ngày đầu tháng 3, chúng tôi đã về thôn Sơn Đa, xã Quảng Phúc, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình để viếng mộ Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Phương – người đầu tiên ngã xuống trên đảo Gạc Ma, trên tay vẫn thắm cờ Tổ quốc.

Hay tin chúng tôi về, nhất là có cả đồng đội của con, cụ Trần Thị Đức, mẹ anh Phương đã ra tận nghĩa trang để đón. Mẹ đẹp lắm, đẹp từ lời ăn tiếng nói đến cử chỉ với mọi người. Mẹ không khóc, không nói nhiều về con trai mẹ, mà lặng im, nuốt từng lời của đồng đội con kể về trận chiến không cân sức do Trung Quốc gây hấn, về cái chết bi hùng của anh Phương và các anh em khác sáng 14.3 của 25 năm về trước.

Nét mặt mẹ nhăn nheo, bàn tay xanh xao, run run cắm hương lên mộ con rồi chân khuỵu xuống, mân mê tấm mộ chí như ngày nào vẫn vuốt tóc Phương. Rồi mắt mẹ sáng rực, đôi bàn tay nắm chặt, nghèn nghẹn xác nhận với mọi người: “Thằng Thảo nói đúng. Phương bị chúng bắn hai phát, một phát vào sườn phải và một phát ở trán. Năm 1992, thằng Hồng, em kế Phương được ra đảo Sinh Tồn bốc mộ anh nó, về kể đúng như thế, nó còn giữ viên đạn của giặc găm ở sườn Phương đấy”.

Mẹ Đức hiền từ nói: “Con Thủy con gái Phương cũng theo nghiệp ba nó đó, vào đúng đơn vị nớ luôn”.

“Anh ơi, biết anh đã được về với mạ, mà em vẫn chưa vô thăm anh với mạ được. Bữa ni em vô với anh đây, 25 năm rồi…” – anh Thảo thì thầm bên mộ thủ trưởng mình.

Hiên ngang giữa Gạc Ma

Bên phần mộ của thủ trưởng, cựu binh Lê Hữu Thảo hờn căm kể lại giờ phút oai hùng, hiên ngang của các chiến sĩ ta. Không một ai run sợ, tất thảy đều hiên ngang trước họng súng kẻ thù. “Anh Phương là Đại đội phó của chúng tôi, lúc lên tàu tôi chỉ biết anh quê ở Quảng Bình, vừa mới cưới vợ, chưa có con” – anh Thảo bắt đầu câu chuyện. Tôi nhập ngũ tháng 2.1986, huấn luyện tại Quảng Ninh, cuối năm 1987 được điều về Lữ đoàn 146 Trường Sa. Ngày 11.3.1988, tàu HQ-604 của chúng tôi và 2 tàu nữa là HQ-605 và HQ-505 xuất phát đi Trường Sa.

Đại đội tôi có nhiều đồng hương Nghệ Tĩnh, do vậy mà thắm thiết lắm. Không thể quên được những hình ảnh của Tư, của Hải, của Thành… đứa mô cũng hiền khô, rứa mà mãi mãi không về nữa. Cổ họng anh nghẹn đặc: “Hải nó tếu táo lắm, có bữa kể vui với mọi người, tao vừa gửi thư cho ông già, tuyên bố là, nếu cha không gửi tiền cho con thì tình cha con sẽ chuyển hướng đấy. Nhưng khi đọc thư nó gửi cho gia đình thật thì không như thế, tôi rất tự hào về nó. Nó viết: Con ra đảo lần này để làm nhiệm vụ hết sức thiêng liêng mà bất kỳ ai cũng làm vì Tổ quốc. Có thể con sẽ hy sinh trong chuyến này. Nếu con hi sinh thì cha mẹ cứ hãy coi như con đang làm nhiệm vụ xa nhà…”.

Thành - quê ở Vũ Quang, đang bị ốm nhưng vẫn xin đi Trường Sa bằng được. Rồi anh Thảo lặng người khi nhắc về liệt sỹ Đậu Xuân Tư, quê ở huyện Nghi Lộc, Nghệ An: Anh Tư người to cao, sống rất hồn nhiên, việc gì cũng xung phong. Hôm lên đảo, tôi được giao mang súng AK, nhưng vì người tôi thấp, sợ súng bị ướt, anh Tư đã giành lấy…

Chiều 13.4, tàu HQ-604 cập đảo Gạc Ma. Neo tàu một lúc thì tàu chiến Trung Quốc xuất hiện, ngoài xa có thêm hai tàu nữa cứ lởn vởn, giống như yểm trợ. Rồi từ tàu đó phát ra giọng nói bằng tiếng Việt: “Đây là lãnh thổ Trung Quốc. Yêu cầu tàu Việt Nam rút ngay”. Nghe vậy các chiến sỹ ta chạy lên boong tàu bắc tay làm loa: “Đây là lãnh thổ Việt Nam. Yêu cầu quân Trung Quốc rút ngay lập tức”. Trận khẩu chiến kéo dài chừng 30 phút thì tàu Trung Quốc rút đi. Tối đó, dù rất mệt nhưng hầu như không ai ngủ, ai cũng căng mắt cảnh giới.

Sáng 14.3, chừng 6 giờ sáng, anh Phong Đại đội trưởng, anh Phương Đại đội phó ra lệnh cho Thảo mang AK, cùng các anh Tư, Chúc và một số chiến sỹ công binh hạ xuồng vào đảo để bảo vệ cờ. Xong, anh Phong trở lại tàu tiếp tục chỉ huy bốc dỡ vật liệu. Khi chuyến xuồng thứ 2 vào đảo thì tàu Trung Quốc ập đến. Chúng cho hạ 3 xuồng nhôm, một xuồng lượn quanh tàu ta, thả dây gì đó xung quanh tàu. Có khoảng 50 tên đổ bộ lên đảo, dàn thành hình vòng cung, bao vây quân ta. Anh Phương nói, kệ bọn chúng, anh em tiếp tục làm việc.

“Chúng tôi tiếp tục lấy san hô chèn cột cờ cho chắc thêm. Lúc này, anh em đã lập thành vòng tròn quanh cột cờ. Rìa đảo, công binh ta đang chuyển vật liệu từ trên xuồng xuống. Phía lính Trung Quốc, chỉ một tên mang bộ đàm, còn nữa súng ống, lưỡi lê sáng quắc. Dàn hàng xong, chúng đồng loạt móc mỳ gói ra ăn sáng. Chúng tôi cứ làm việc của mình” – anh Thảo nhớ lại.

Lính Trung Quốc lăm lăm súng. Tên chỉ huy đã rút súng ngắn ra khỏi vỏ. Tôi nhớ rất rõ mặt tên này, kể cả bây giờ gặp tôi vẫn nhận ra. Quân ta cứ hiên ngang công việc của mình. Khi lá cờ Tổ quốc phấp phới bay trên đầu anh Phương thì bọn chúng nổ súng. Chúng bắn vào bụng anh, rồi tiếp một phát nữa vào trán. Anh Phương gục xuống, tay vẫn thắm tươi lá cờ Tổ quốc. Lúc này, thấy anh Tư mang súng, một tên lính Trung Quốc đã giật quai súng, đâm lê và nổ súng vào anh. Rồi anh Lanh, anh Phong… lần lượt trúng đạn. Lính Trung Quốc rút mau lẹ. Từ tàu nó, súng cỡ lớn nã đạn xối xả vào quân ta. Tàu HQ-604 bị chìm cùng với nhiều chiến sỹ, phần lớn là công binh và cán bộ trên tàu.

Mặt biển tráng tươi màu máu!

Vượt biển

Chỉ còn rất ít anh em ta sống sót, phần lớn tập trung ở phía xuồng vật liệu. Thủy triều lên, nước đã đến ngực, trong lúc xuồng đã bị bắn thủng lỗ chỗ. Các anh chia nhau bơi tìm đồng đội. Chỉ vớt được thi thể anh Phương và một khẩu súng AK, còn anh Phong, anh Tư… vẫn không thấy. Tiếp tục tìm kiếm, các anh tìm thêm được anh Lanh, anh Hải bị thương rất nặng.

Xa xa, tàu HQ-605 cũng đã chìm, chỉ còn mỗi tháp tàu đang nổi. Nhưng tàu HQ-505 vẫn còn, một nửa thân tàu đã lao lên bãi cạn. Lên được đảo là giữ được đảo, anh Thảo nghĩ vậy nên đã bảo mọi người cởi quần áo, nút lỗ thủng để chèo xuồng về tàu HQ-505. Thi thể anh Phong được đặt trang trọng giữa xuồng, rồi đến các thương binh. Những người không biết bơi thì lên xuồng dùng tày để chèo, còn lại bám vào mạn xuồng, nhắm hướng tàu HQ-505 thẳng tiến.

Bơi được chừng 3 tiếng đồng hồ, anh Thảo phát hiện một đồng đội đang vùng vẫy ngoài xa. Thế là anh em đổi hướng chèo để cứu bạn. Vừa đưa được anh Hưng, máy trưởng tàu HQ-604 lên xuồng thì cũng vừa lúc tàu HQ-505 thả xuồng máy ứng cứu. “Chiều muộn ngày 14.3 chúng tôi mới về đến đảo Cô Lin” – anh Thảo vẫn còn thở gấp.

Tối đó, tàu mang cờ chữ thập đỏ của ta đón các anh về đảo Sinh Tồn. Lại một đêm không ngủ. Anh Thảo và anh Chúc xin được túc trực thi hài anh Phương, người thủ trưởng anh dũng của mình. Sáng 15.3.1988, lễ an táng anh Phương được tổ chức trang trọng theo nghi thức quân đội tại đảo Sinh Tồn…

Chúng tôi chia tay mẹ Đức, bịn rịn như những đứa con chuẩn bị xa nhà. Mẹ hiền từ nói: “Thảo và mấy đứa có điều kiện thì về chơi với mạ nữa nghe. Con Thủy con thằng Phương cũng theo nghiệp ba nó, vào đúng đơn vị nớ luôn”.