Đó không phải là những cựu chiến binh đã tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam vào những thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX, mà là những cựu chiến binh đồng thời là đồng minh của Việt Minh từng tham gia cuộc chiến tranh chống Nhật trên chiến trường miền Bắc Việt Nam cách thời điểm đó đúng nửa thế kỷ (1945-1995). Đó là những cựu chiến binh thuộc một đơn vị đặc biệt có biệt danh là “Con Nai” (Deer Team) của OSS - tổ chức tình báo chiến lược Mỹ thành lập trước đại chiến II và là tiền thân của CIA sau này.

Vào những năm chiến tranh và quan hệ Việt-Mỹ còn thù địch, câu chuyện về đội quân Mỹ hợp tác với Việt Minh trên chiến khu Việt Bắc thành lập Đại đội Việt-Mỹ tham gia lễ xuất quân ở Tân Trào, rồi kéo về đánh Nhật ở Thái Nguyên, rồi có mặt trong ngày lễ Độc lập 2.9.1945 tại Hà Nội không  ai nhắc đến thì đến nay nhiều sách đã viết.

Thế mà vào năm 1972, khi các nhà báo phản chiến Mỹ công bố tập “Hồ sơ bí mật của Lầu Năm góc” trong đó có nói đến mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Hồ Chí Minh đã làm công chúng Mỹ sửng sốt để đặt ra câu hỏi vì sao nước Mỹ lại đem quân đánh nhau với người đồng minh cũ của mình?

Còn cựu chỉ huy đơn vị OSS ở Đông Dương là Archmèdes Patti khi viết hồi ký cũng chọn cái tên cho cuốn sách của mình bằng một câu hỏi là “Why Vietnam?” (Tại sao Việt Nam?), với ý tứ viết trong đề từ của sách: “Câu chuyện về người thuỷ thủ già đã lỡ tay bắn chết con chim báo bão”, muốn nói rằng vì đánh mất những ký ức một thời đồng minh mà dẫn đến cuộc chiến tranh khiến nước Mỹ phải thua trận.

Trong chuyến trở lại năm 1995, tức là nửa thế kỷ sau mối quan hệ đồng minh ngắn ngủi rồi lại trải qua một thời kỳ dài thù địch với một cuộc chiến tranh khốc liệt rồi cấm vận, những chàng trai trong đạo quân OSS chống phátxít năm xưa trẻ nhất cũng đã bước vào tuổi “cổ lai hy” , họ gặp lại những người đồng minh cũ Việt Minh rồi cùng nhau kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Thân hữu Việt-Mỹ, tổ chức “ngoại giao nhân dân” đầu tiên của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Hội thành lập ngay sau ngày nước Việt Nam độc lập tại thủ đô Hà Nội (9.1945).

Trong chuyến đi này họ có dịp trở lại Việt Bắc đến nơi ngày xưa lập “lán Đồng minh” (nơi binh sĩ Mỹ trú quân) rất gần nơi Bác ở và được gặp lại Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tư lệnh của Đại đội Việt-Mỹ trực tiếp tham gia trận đánh Nhật ở Thái Nguyên năm xưa.

Thế rồi 2 năm sau, 1997, các “cụ” Việt Minh lại được mời qua New York, gặp lại các “cụ” đồng minh Mỹ. Kết thúc cuộc gặp là một buổi giao lưu tại “Ngôi nhà Châu Á” (Asia House)  ở New York có ông Vũ Khoan lúc đó là Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam qua dự, cùng ông đại sứ Mỹ đầu tiên được bổ nhiệm tại Hà Nội. Chỉ có điều cử toạ đến theo dõi có quá nửa là những quan chức và nhân viên CIA đã về hưu hay tại chức đến để nghe lại câu chuyện hợp tác giữa hai đối thủ đã từng là đồng minh của nhau.

Tôi có may mắn được tham dự cả hai cuộc gặp mặt ở trong và ngoài nước. Những kết quả của các cuộc gặp mặt này đã có nhiều sách báo khai thác, nhưng cũng có nhiều điều thú vị và sâu sắc mà tôi nhận thức được từ những cuộc gặp gỡ này.

Ra đi tìm đường cứu nước gần như cùng lúc với cụ Phan Châu Trinh (1911) sang Pháp, nhưng vào thời điểm đó, Hồ Chí Minh lại là người Việt Nam rất hiếm hoi đến nước Mỹ và dừng lại sống ở đó một thời gian. Ở thành phố Boston, người ta biết đến một di tích là khách sạn Omni Parker- nơi còn lưu giữ một chiếc bàn mà Hồ Chí Minh khi còn là một phụ bếp trẻ đã đứng nặn bánh mỳ..., nay đã trở thành một di tích được khai thác du lịch.

Nhưng cũng ở thành phố Boston nổi tiếng với 2 trung tâm giáo dục và khoa học lừng danh là Đại học Harvard và Viện MIT, lần Thủ tướng Phan Văn Khải đến thăm (6.2005), mọi người rất ngạc nhiên khi nghe một nhà lãnh đạo của Harvard trong lời chào mừng đã cho biết  trong thời gian ở Boston, Hồ Chí Minh không chỉ “kiếm sống” mà còn kiếm tìm nhiều cái khác khi thường xuyên đến trường đại học này đọc sách trong thư viện và đến viện nghiên cứu dự các buổi sinh hoạt phổ biến kiến thức khoa học.

Hoạt động chính trị đầu tiên của Hồ Chí Minh khi đến sống ở Pháp vẫn hướng về Hoa Kỳ khi ông thực hiện một cuộc trả lời phỏng vấn của một tờ báo Mỹ viết bằng tiếng Hoa xuất bản ở Thiên Tân (Trung Quốc), tờ “Nghệ Chí báo” để bày tỏ chính kiến yêu nước của mình và cùng với nhóm Những người Việt Nam yêu nước tại Pháp viết chung bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hoà hội Versailles của các nước thắng trận trong cuộc Thế chiến I.

Văn kiện này được ưu tiên gửi Tổng thống Mỹ W.Wilson là người đã đưa ra những nguyên tắc xử lý các vấn đề quốc tế thời hậu chiến, trong đó hứa hẹn sẽ giải phóng cho các nước thuộc địa... Nhưng hồi âm cũng chỉ là những tấm thiếp trả lời lịch sự của Văn phòng Tổng thống rằng “đã nhận được” rồi... im lặng... Cũng y như như Tổng thống Truman đối với các văn kiện Chính phủ Hồ Chí Minh gửi sau Thế chiến thứ II kết thúc.

Hồ Chí Minh tham gia phong trào cộng sản sau những thất vọng vì lời hứa suông của Tổng thống Mỹ đối với các dân tộc thuộc địa để rồi đi theo phong trào cộng sản và Quốc tế Cộng sản vì sức hấp dẫn của “Sơ thảo Luận cương vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin... Nhưng rốt cuộc, khi cơ hội đến thì Quốc tế Cộng sản đã giải tán (1943) và trớ trêu lịch sử là vào thời điểm quyết định nhất thì lực lượng nước ngoài duy nhất là đồng minh và sát cánh với Hồ Chí Minh chống Nhật ở Việt Nam lại là... Hoa Kỳ.

Cho dù chỉ có một số lượng rất ít sĩ quan và binh sĩ của OSS cùng với một lượng quân trang quân dụng không nhiều của Mỹ được trang bị cho Việt Minh, nhưng việc thoả thuận là đồng minh của nhau trong trận chiến chống phátxít có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Dường như tiên đoán được  kết cục của cuộc chiến và cả những gì hiểu biết về nước Mỹ mà Hồ Chí Minh tìm đến Mỹ, đại diện lực lượng Đồng minh chống phátxít đang có mặt ở Châu Á, đóng đại bản doanh ở vùng Hoa Nam của Trung Quốc, rất gần nước ta.

Người chứng kiến cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Hồ Chí Minh và người đứng đầu lực lượng Đồng minh ở khu vực Hoa Nam và Đông Nam Á - tướng Mỹ Chenault - là trung uý Charle Fenn. Ông kể lại rằng điều gây ấn tượng nhất đối với ông từ nhà cách mạng Việt Nam là sự hiểu biết, sòng phẳng, khôn ngoan và minh bạch của Hồ Chí Minh. Bởi lẽ Hồ Chí Minh đến với Mỹ không phải bằng hai bàn tay trắng mà bằng một viên phi công Mỹ - trung uý Shaw - được Việt Minh cứu sống ở Việt Bắc khỏi rơi vào tay quân Nhật.

Sau lời cảm ơn, viên tướng Mỹ hỏi rằng vậy thì phía Mỹ phải đáp lại bằng cách nào? Vàng, đôla, vũ khí hay cái gì, thì câu trả lời của người đứng đầu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam cho rằng điều quan trọng nhất là xác nhận Việt Minh đứng trong lực lượng Đồng minh chống phátxít! Ngoài ra là các phương tiện thông tin, còn tiếp theo là do nhu cầu cả hai bên.

Trong thực tế, phía Mỹ cung cấp cho Hồ Chí Minh điện đài kèm 2 sĩ quan thông tin gốc Hoa (Frank Tan mà Mac Shin), tạo điều kiện để hợp tác với cơ quan tình báo của Mỹ và Anh. Thời gian sau (7.1945), Mỹ đã thả dù đơn vị “Con Nai” xuống chiến khu Tân Trào, lập đơn vị vũ trang hỗn hợp, tổ chức việc ứng cứu phi công Mỹ. Xây một sân bay dã chiến để chuyển vũ khí, trong đó có cả một bản in “Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ” cho Việt Minh...

Thực ra tất cả những việc làm đó chỉ mang lại một hiệu quả không đáng kể trên chiến trường: Đại đội Việt - Mỹ mới tác chiến với quân Nhật ở Thái Nguyên thì chiến tranh đã chấm dứt trước đó nên sau một vài động thái thương lượng thì Nhật đã thu quân “án binh bất động”; không có thêm một phi công nào được cứu, đơn vị “Con Nai” cũng được lệnh thu quân không can thiệp vào chính trường Đông Dương...

Nhưng trên bản ''Tuyên ngôn Độc lập” của Việt Nam sau lời trích “Tuyên ngôn Độc lập” của Mỹ về quyền sống và mưu cầu hạnh phúc của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đĩnh đạc tuyên bố một sự thật: “Một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phátxít mấy năm nay..., dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”. Đó chính là cơ sở pháp lý, vị thế lực lượng Đồng minh thắng trận của một chính thể được thành lập ngay sau khi chủ nghĩa phátxít đầu hàng.

Những ngày gặp gỡ ở Mỹ, viên trung uý Ch.Fenn năm xưa đã ngót trăm tuổi, ông không dự các cuộc thảo luận mà chỉ ngồi lắng nghe. Sau khi ở Việt Nam về ông vẫn trong quân đội nhưng khi Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tranh Việt Nam thì ông phản đối. Đó cũng là thái độ của tất cả những người đã từng là đồng minh với Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam vào vào mùa thu 1945.

Người chỉ huy OSS ở khu vực là A.Patti cũng như người chỉ huy nhóm “Con Nai” là A.Thomas  phải ra điều trần trước Quốc hội đều khẳng định việc quay lưng lại chống Hồ Chí Minh là một sai lầm cho dù đó là một người cộng sản.

Tất cả các thành viên khác của đơn vị không ai can dự vào cuộc chiến ở Việt Nam. Riêng Ch.Fenn bị trục xuất, ông sang Hồng Kông sống rồi viết tiểu sử, làm kịch về Hồ Chí Minh... mãi về sau mới được “ân xá” . Cho đến cuối đời, khi đã vượt trăm tuổi, ông còn viết lời tựa cho một cuốn sách viết về Hồ Chí Minh xuất bản ở Việt Nam.

Lần gặp ở New York, ông gọi tôi và một bạn trong đoàn Việt Nam lại và nói rằng: “Hồ Chí Minh lần đầu đến gặp Mỹ không chỉ bằng những lời hứa suông, mà bằng một khả năng khiến người Mỹ phải cần đến. Ông là người quá am hiểu nước Mỹ, nước Mỹ chúng tôi không có bạn mà chỉ có đồng minh thôi”.

Ch.Fenn cho rằng phải nhìn nhận Hồ Chí Minh là một chính khách, những thủ đoạn là cần thiết biểu thị của sự khôn ngoan, nhưng chính tính “thực thà cộng tác” là điều thuyết phục mạnh nhất đối với những ai có dịp gần nhà cách mạng này. Và vì thế mà thiếu tá Thomas- người chỉ huy nhóm “Con Nai” phải lưu ý chúng tôi rằng nếu sang Mỹ chớ có đưa ra tư liệu là tối hậu thư của ông với tư cách sĩ quan Mỹ yêu cầu quân Nhật ở Thái Nguyên đầu hàng, vì lúc đó nước Nhật đã đầu hàng rồi thì một sĩ quan Mỹ không có quyền ra lệnh, hành xử như vậy là phạm quân luật!

Ông giải thích rằng sở dĩ làm thế vì quá nhiệt tình với mối quan hệ Đồng minh mà hai bên đã thiết lập được dù thời gian rất ngắn ngủi. Mac Shin là báo vụ viên gốc Hoa theo Bác về chiến khu Việt Bắc, duy trì liên lạc với đại bản doanh Đồng minh và đào tạo cán bộ cho Việt Minh luôn gọi Hồ Chí Minh là Cha, năm Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Mỹ, đặt chân đến địa điểm đầu tiên là thành phố đã thấy cụ Mac Shin đã gần 90 tuổi ra đón...

Còn tại  Boston, địa điểm cuối cùng trước khi rời nước Mỹ,  vị thượng nghị sĩ nổi tiếng chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam Mc Govern lúc này đã 84 tuổi còn lên diễn đàn chào mừng Thủ tướng Việt Nam và nhắc lại rằng khi ông còn là một phi công ném bom trên chiến trường Đông Nam Á, đã được cấp trên thông báo rằng nếu máy bay bị quân Nhật bắn rơi thì sẽ có lực lượng của Hồ Chí Minh giải cứu.

Vì thế trong cương lĩnh tranh cử tổng thống năm 1972, ông và bang Massachusets của ông đã phản đối chiến tranh. Năm ấy ông thất cử, Nixon thắng cử nhưng cái gì đến với Nixon thì mọi người đều đã thấy... Và vị thượng nghị sĩ kết luận: “Hôm nay Thủ tướng và các bạn Việt Nam được tiếp xúc với những cử tri sáng suốt nhất nước Mỹ”, bởi lẽ họ là những người có niềm tin vào những đồng minh cũ của mình trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phátxít...”.

Bàn đến câu chuyện “đồng minh” của 67 năm trước, tôi vẫn nhớ đến câu của cụ Ch.Fenn: “Mỹ không có bạn, chỉ có đồng minh”. Điều đó thật sòng phẳng như chân lý nếu hiểu rằng mọi sự minh bạch đều làm nên sự bền vững. Đồng minh có nghĩa là cả các bên đều phải minh bạch, biết chia sẻ quyền lợi. Câu chuyện đồng minh giữa Hồ Chí Minh và nước Mỹ năm xưa là một bài học sâu sắc, nhất là vào thời điểm này...