Tuần này tôi lại được đến xem một cuộc triển lãm chỉ do một người đứng ra thực hiện. Đúng là một cuộc triển lãm cá nhân, nhưng hoàn toàn không phải là một cuộc trưng bày các tác phẩm hội hoạ, nhiếp ảnh hay những sản phẩm nghệ thuật của một tác giả mà lại là một bộ sưu tập cũng về một kỳ tích lịch sử của một dân tộc đã chiến thắng trong cuộc đối đầu với sức mạnh của một quốc gia lại cũng chính là Hoa Kỳ mà nước Nhật phải đương đầu hơn sáu chục năm trước. Còn cuộc đối đầu chiến thắng của dân tộc Việt Nam thì đến mùa Giáng sinh này là vừa tròn bốn chục năm.

Cuộc triển lãm này có cái tên rất khiêm nhường “Tôi kể chuyện này” với phụ đề “Trưng bày những hiện vật chế tác từ phế liệu chiến tranh”. Người kể là nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, một cây bút từng có những cuốn sách hết viết ngang rồi lại viết dọc về thành phố Hà Nội (ông là tác giả hai thiên tuỳ bút khảo cứu được giải thưởng về Hà Nội có tựa sách là “đi ngang” và “đi dọc”).

Nhưng lần này thì ông kể bằng hiện vật, tất cả những gì ông “nhặt nhạnh” được liên quan đến thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất của “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” (tên một tập tuỳ bút của nhà văn Nguyễn Tuân) mà đỉnh cao là hai tuần chót của năm 1972, được thế giới biết đến về một chiến dịch đánh phá khốc liệt của không lực Mỹ diễn ra vào thời điểm có định vị thời gian là “Giáng sinh 1972”, còn người Việt Nam thì liên tưởng đến một “Điện Biên Phủ trên không”.

Những thứ mà nhà báo, cũng là nhà sưu tập “nhặt nhạnh” chỉ có chừng 50 món, những hiện vật này không đáng gọi là cổ vật, niên đại xưa nhất có lẽ mới độ bốn chục năm lại đều là những thứ gần gũi với cuộc sống đời thường: Cái điếu cầy, cây đèn, cái lược chải đầu, cái xe đạp, tấm vải dù hoặc một một vài bộ phận của các khí tài quân sự như quả bom điếc hay thùng gỗ đựng đạn dùng làm vali đựng tư trang v.v... Vì thế nên trong ký ức nhiều người còn nhớ. Nhưng điều gây xúc động và thu hút người xem thuộc thế hệ những người đã từng sống vào thời điểm đó, chính là ở chỗ, những cái tưởng chừng rất quen thuộc ấy giờ đây thật khó kiếm cho ra.

Một cái lược hay gạt tàn thuốc lá, một ống điếu hay một cái khay bằng xác máy bay, hồi đó thật không hiếm. Ngay mảnh xác máy bay Mỹ, trong đó có cả B52 rơi trong thành phố Hà Nội cũng không ít. Cái sân vốn làm cho trẻ chơi trượt giầy có bánh xe, được gọi là patanh trong Vườn Bách thảo có hàng chấn song sắt vây quanh cũng được dùng làm nơi gom xác máy bay Mỹ rơi rải trong thành phố. Cái sức ầm ào gầm rú trên trời và thả bom tàn phá mặt đất của những chiếc máy bay Mỹ dễ làm người ta liên tưởng đến con ác thú, nay trở thành những đống đồng nát bất động nơi đây khiến nhiều người viết báo nhắc nhở rằng Bách thảo hồi xưa cũng là Bách thú. Thời chiến tranh, thú cũng phải đi sơ tán nên bấy giờ được dùng để nhốt xác thú bằng kim loại hay hình tượng hơn là những con ác điểu đã gẫy cánh...

Thì chính nhà sưu tầm, chủ nhân cuộc triển lãm đã cho biết có nhiều hiện vật trong cuộc trưng bày này chính là một phần của những con thú ấy bị xả thịt. Chính cái bộ bàn ghế bằng kim loại xịn, sáng choang gồm một bàn và 6 ghế nằm giữa căn phòng triển lãm đã được một ông già bán nước bằng cách nào đó xả thịt “con B52” rơi ngay trên đường Hoàng Hoa Thám rồi bị nhốt trong Bách thảo, mang về trau chuốt thành bộ đồ đến nay có lẽ là độc nhất vô nhị?

Bởi lẽ, kể từ ngày Mỹ sản xuất ra B52 vốn chỉ để dùng làm một trong 3 con bài chiến lược thời Chiến tranh Lạnh (cùng với tên lửa vượt đại châu và tàu ngầm nguyên tử) đối phó khi xảy ra đụng độ giữa các cường quốc, đến lúc bí quá lại cũng muốn ra oai không chỉ để ép Việt Nam ký kết Hiệp định Paris theo ý muốn của Mỹ, cũng lại muốn thử một lần cho thiên hạ biết uy thì ngoài Việt Nam ra, chưa có chiếc B52 nào bị ai bắn rơi ở bất cứ đâu trên hành tinh. Nghe đâu chỉ có một chiếc gặp nạn do kỹ thuật thì xác của nó được thâu gom, như một tuyệt bí mật quốc gia.

Nhiều hiện vật trưng bày trong triển lãm hoàn toàn làm bằng vỏ máy bay hay các bộ phận của các khí tài chiến tranh mà các nhà chế tác không quên giữ lại những số, ký hiệu được sơn lên để làm dấu tích xuất xứ. Không chỉ của Mỹ, mà có cả Liên Xô hay Trung Quốc v.v... Những quả bom của địch tịt không nổ đã được tháo ngòi và thuốc hay một cái “đuôi” tên lửa phòng không của ta hình chóp nón cụt ngày xưa dường như làng nào cũng có dùng để làm kẻng báo động hay báo nhịp làm ăn tập thể của các hợp tác xã, thì nay cũng đã thành của hiếm. Một cái kẻng-bom như vậy treo trên giá gỗ cũng tạo hình và gợi lại những âm thanh của thời chiến.

Một chiếc xe đạp nhãn hiệu “Thống Nhất” thời chiến tranh hay bao cấp vẫn là thứ đồ hiếm không phải ai cũng có, phải bốc thăm mỗi lần cơ quan được phân phối nhưng nó cũng là một phương tiện giao thông phổ biến nhất thì đến nay tìm được một hiện vật hoàn chỉnh như chiếc trưng bày trong triển lãm với đầy đủ biển số đăng ký đâu phải là dễ.

Tôi đã thấy ở Bảo tàng Điện Biên Phủ những chiếc xe đạp thồ súng đạn, lương thực của dân công tiếp tế cho mặt trận thời kháng chiến chống Pháp. Rồi ngay giữa Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Mỹ ở Thủ đô Washington cũng có một chiếc xe đạp thồ của quân dân Giải phóng đặt cạnh chiếc máy bay trực thăng UH1 của Mỹ. Nhưng chiếc xe đạp thời chống Chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc nói chung, ở Hà Nội nói riêng chưa thấy bảo tàng nào trưng bày như một phần quan trọng của cuộc chiến tranh.

Đường sá bị Mỹ rình rập ném bom, có thể từ đường cái đi ngang tắt qua đường làng, đi ngày hay đi đêm thì có chiếc xe chở người; còn leo qua hố bom hay xuống đò sang men theo đường ruộng hay những vùng nước ngập thì người lại vác xe. Cơ động như thế nên người Việt Nam với những kỹ năng, lộn xích đắp lốp, cắt vành...

Làm báo tác nghiệp hay từ nơi sơ tán về Hà Nội thì xe đạp là phương tiện đắc dụng và an toàn hạng nhất. Những chiếc cáng thương kết hợp giữa võng hay chõng tre với những xe đạp không biết đến nay còn ai nhớ “bản thiết kế” mang lại những hiệu quả mà những chiếc xe cấp cứu hiện đại chưa chắc đã sánh kịp hiệu quả thời chiến tranh phá hoại... Không chỉ những giá trị vật thể bị mai một mà những giá trị phi vật thể tồn tại như ký ức cũng dần bị quên lãng khiến cho những cuộc triển lãm như thế này đánh thức người ta nhớ lại một thời.

Tôi biết bộ sưu tập của người phóng viên tờ “Hà Nội Mới” này từ lâu, và vài năm trước đã có lần được bàn thảo với ông dự kiến tìm nơi trưng bày mà không thành. Lần này, ông lại trưng bày được tại một địa điểm khá đắc địa - phòng triển lãm Hàng Bài - hẳn là ông đã được các cơ quan nhà nước quan tâm hỗ trợ. Ông cười mà rằng, trừ toà báo nơi ông làm việc khích lệ, còn tất cả tự mình phải lăn lưng mà làm. Làm việc công ích như thế mà vẫn phải nộp mọi thứ phí và “chẳng ma lãnh đạo” nào của ngành văn hoá quan tâm.

Lại nhớ trong tâm sự của nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến đăng trên báo, ông nói rằng lúc đầu ông định đặt tên cho cuộc trưng bày của mình là “Hoá kiếp chiến tranh” nhưng lại thấy nó không được “đời thường” nên ông đổi thành một câu chuyện kể mà không lời. Tôi lại nhớ đến bức tượng Xôviết đặt trong khuôn viên của Trụ sở Liên Hiệp Quốc hình tượng người nông dân đang rèn lưỡi kiếm thành lưỡi cày nó có vẻ khái quát hơn về mong ước hoà bình muốn từ giã chiến tranh.

Thế nhưng, những hiện vật được chế tác từ phế liệu chiến tranh được trưng bày trong cuộc triển lãm ở Hà Nội này lại mang một nét vẻ rất Việt Nam. Chiến tranh triền miên khiến con người không thiết nghĩ đến những điều to tát mà gửi gắm ước vọng hoà bình của mình vào cách hoá giải chiến tranh một cách rất cụ thể gắn vào cuộc sống đời thường của mình.

Vỏ ngoài chứa bên trong hàng trăm quả bom bi có thể dùng làm máng ăn trong chuồng lợn; còn những quả bom bi chưa nổ dáng hình quả dứa làm chân đèn rất đẹp, cát tút đạn pháo làm lọ hoa, đạn súng ngắn hay súng dài làm thân bật lửa, dây điện của Hàng rào điện tử Mc Namara xoắn lại thành những cái lò xo nho nhỏ rồi móc lại với nhau thành những chiếc rèm muôn màn treo trên cửa, ống pháo sáng thành đôi thùng gánh nước từ chiến trường mang về quê tặng người ở hậu phương... Biết bao giờ có một phòng trưng bày như thế trang trọng ở những bảo tàng quốc gia? Vì đó mới thực là cuộc chiến tranh từ góc nhìn của người dân từng tham dự...

Nhưng cũng phải giật mình khi nghĩ đến sức hoá giải ấy cũng làm hao tổn không ít những giá trị vật thể là dấu tích của chiến tranh nhất là vào thời điểm đời sống khó khăn, nhà nước lại cho khai thác và bán phế liệu khiến cho bao nhiêu đại bác, xe tăng, máy bay cho đến cả nhưng thanh thép nhỏ trong các công trình xây dựng cũng bị tận thu đến tận kiệt...

40 năm sau, kỷ niệm “Điện Biên Phủ trên không”, tạt qua Hồ Ngọc Hà nơi có một tượng đài “gốc”, phần xác chiếc máy bay B52 bị bắn rơi rớt xuống hồ nước, vào đúng lúc xuân sang khiến giới nhiếp ảnh để lại những tấm hình vừa hào hứng vừa lãng mạn về xác máy bay và hoa chiến thắng. Đến nay, hồ nước và làng hoa thơ mộng đã không còn như xưa. Các luống hoa nay đã thành nhà tầng tầng lớp lớp, hồ xưa nay không bằng một cái ao, nước xanh trong nay đã ngầu mầu tù hãm.

Nhưng đáng nói nhất là xác B52 dù bằng kim loại bền vững thế nào cũng không thắng nổi thời gian. Phơi trần, ngâm nước, không khí ô nhiễm nay chỉ là một đống sắt vụn đang mọt rữa. Ngó vào Bảo tàng nào ở ta từ Lịch sử Quân sự đến Phòng không-Không quân hay Chiến thắng B52 đang được tân trang chờ ngày Hội lớn, hiện vật xác máy bay cũng chẳng hơn và ai cũng nhìn thấy trước cái ngày nó sẽ biến mất như biết bao chứng tích oai hùng của ông cha ta thuở trước. Biết đâu đấy, chính những cái hiện vật bé nhỏ, những hiện vật chế tác từ phế liệu chiến tranh như của anh nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến hoặc đang nằm trong dân lại giữ được lâu bền hơn cả?