Mười năm trước, câu chuyện cáp treo Yên Tử từng sôi nổi dư luận, người thuận- người chống đều quyết liệt. Tôi có hai ông thầy “ruột” thì một vị chống đến cùng việc làm cáp treo, vì sợ nó làm mất thiêng chốn hành hương của đạo Thiền; một vị thì chỉ mong sớm có cáp treo để nhiều người cao tuổi như thầy được vãn cảnh đẹp của thiên nhiên và đặt chân đến chốn đức Phật hoàng đã tu tập và lưu một phần thân thể nơi thạch tháp.

Nay lên Yên Tử có điều kiện ngồi trên cáp treo, được ngắm nhìn toàn cảnh những rặng núi trùng điệp và mù sương như ẩn hiện trong đó biết bao nhiêu linh khí đã hơn bảy trăm năm trở thành nơi tụ khí thiêng của dòng Thiền Trúc Lâm gắn với địa danh Yên Tử. Cho dù nơi đức Phật hoàng Trần Nhân Tông xuất giá từ Vũ Lâm, kề cận cố đô Hoa Lư và nhiều địa danh khác từ ngôi chùa chứa kinh sách, mới đây mộc bản vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hoá của nhân loại... thì Yên Tử vẫn hiển hiện trong lịch sử và trong hiện tại như một chốn non thiêng của dân tộc.

Hồi mười năm trước, một luận chứng ủng hộ việc làm cáp treo là để giảm tải cho số người hành hương- nhất là vào những ngày lễ hội, vì e rằng những bàn chân giẫm đạp lên rễ sẽ khiến cho hàng tùng cổ- tương truyền đưa từ đất Phật bên Ấn Độ về- sẽ không sống nổi và chừng ấy con người lên xuống trên con đường hành hương này sẽ thải ra không biết bao nhiêu thứ làm ô nhiễm vùng đất thiêng này...

Đến nay, con số người đến với Yên Tử hằng năm đã tăng hơn mười năm trước nhiều lần, con số người sử dụng cáp treo, dù đã qua một lần nâng cấp, cũng mới chỉ chiếm hơn 20% tổng số của chừng hai triệu người đến Yên Tử mỗi năm. Như thế số người hành hương theo lối truyền thống leo bộ lên đỉnh non vẫn là đông vô kể. Nhưng việc tổ chức và tuyên truyền của cơ quan quản lý di tích đã giúp việc hành hương ngày càng nền nếp, quy củ và 270 cây tùng cổ vẫn còn và môi trường vẫn giữ được sự thanh sạch. Hơn thế, đến nay các nhà sinh học đã tạo  được giống cây quý mang hồn cốt Yên Tử để làm xanh hơn và thiêng hơn di tích.

Đến Yên Tử lần này, theo một đoàn các nhà khoa học và nghệ sĩ tới làm lễ cầu đức Phật hoàng Trần Nhân Tông cho được làm một bộ phim về ngài. Một cuộc toạ đàm nhỏ còn có mặt cả các vị hoà thượng, đại đức cùng nhau chia sẻ sự tâm đắc và tôn kính đối với một nhân vật có thể nói là có một không hai trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử Phật giáo nước ta.

Một hoàng tử sinh ra đúng lúc vua cha vừa đánh thắng giặc Nguyên xâm lược lần thứ nhất, được đưa lên ngôi thế tử mà ngay khi còn trẻ đã tỏ ra dửng dưng với ngôi vị, 3 lần tìm cách thoái thác muốn nhường cho em; lại có lúc tuy vua cha đã dựng gia thất mà vị thái tử trẻ tuổi trễ nải cả việc phòng the, bỏ trốn lên Yên Tử để lánh cõi trần.

Bị vua cha đưa về kinh, ngài vẫn thích đến chùa Tư Phúc trong Đại nội tụng kinh niệm Phật hơn là vào nơi triều chính tập sự làm vua. Nhưng đúng năm Thái tử vừa tròn 20 tuổi (1278), đất nước đứng trước hoạ ngoại xâm, giặc Nguyên đã lật diệt nhà Tống, soán ngôi phương Bắc, rậm rịch tràn xuống phương Nam, Vua Thánh Tông nhà Trần nhìn xa- dù mới 40 tuổi- đã nhường ngôi cho con để làm Thái thượng hoàng, giao quyền bính cho vị vua trẻ sau này mang tên thuỵ là Trần Nhân Tông.

Đến lúc này thì vị thái tử thích xuất thế hơn nhập thế đã nhanh chóng thích ứng với cương vị một đấng quân vương gánh đại sự quốc gia. Lên ngôi tháng 10 thì tháng 11 sứ thần nhà Nguyên đã nghênh ngang sang Đại Việt gây sự. Tài năng ứng phó ngoại giao, khả năng tập hợp lực lượng và sức mạnh dân tộc đã giúp vị vua thứ ba của nhà Trần trì hoãn cuộc xâm lăng của phương Bắc được 6 năm, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến giành toàn thắng...

Hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông diễn ra vào các năm 1285 và 1288 là cả một pho sử dày dặn và vẻ vang với tên gọi của các chiến công Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, với những tên tuổi như Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Thượng tướng Quốc công Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng..., với những sự kiện Bình Than, Diên Hồng, với cảnh các tướng giặc Thoát Hoan chui ống đồng, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp... bị bắt sống phải đền tội trước Chiêu lăng của đấng tiên vương, nơi để lại đôi câu thơ tổng kết sự nghiệp triều đại và của cả dân tộc: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu” (Xã tắc hai phen bon ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng)... Đó là những chất liệu tuyệt vời cho các nhà làm phim mà hiếm có một thời đại lịch sử nào trong quá khứ sánh nổi.

Vậy mà chính đấng quân vương anh hùng xông pha trận tiền và đạt tới vinh quang chói lọi ấy lại dứt khoát từ bỏ ngai vàng, theo gương cha trao ngôi báu cho con khi mình mới ở tuổi... 35 (1893). Rồi ngài lên Yên Tử tu luyện để rồi trở thành vị Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử,  phát huy những tố chất Việt góp vào nền Phật giáo của thế giới và tạo ra một giá trị vô thường của Phật giáo Việt Nam.

Phật hoàng lên Yên Tử đâu phải là xuất thế để xa lánh cõi đời mà với một tầm nhìn xa rộng hơn, ngài mong “Sơn hà thiên cổ điện kim âu” theo cách của mình như sau này danh sĩ Ngô Thì Nhậm đã viết: “...mọi người thấy đức Điếu Ngự (tức Trần Nhân Tông) là tổ thứ nhất khi ra ở chùa Yên Hoa thì cho ngay là ngài xuất gia. Nhưng có biết đâu, đương lúc bấy giờ đức Tổ biết lấy thiên hạ làm chung, gặp lúc nước nhà yên ổn, song nước láng giềng ở ngay bên cạnh rất mạnh nên chưa được yên tâm, mà việc đó không thể nói ra, sợ lòng người dao động. Nhận xét thấy Yên Tử là một ngọn núi cao, phía đông có thể nhòm mặt tỉnh Yên, tỉnh Quảng. Phía bắc có thể trông tới Lạng Sơn, Lạng Giang nên mới dựng tu viện, thường qua lại xem động tĩnh, khiến cho quân giặc ở ngoài không thể gây những việc đáng lo ngại. Đó mới thật là vô lượng đại thế chí Bồ tát...” (sách “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”).

Ai lên ngọn Yên Tử lúc này, ngoài ngôi chùa Đồng, bức tượng lớn đức Phật hoàng đang được luyện đúc, ngắm nhìn Nam- Bắc- Tây- Đông mới thấm thía cái tầm nhìn của người xưa xem ra hơn hẳn thời nay. Ngài đã viên tịch hơn bảy thế kỷ rồi mà những tư tưởng của ngài không chỉ được con dân của ngài trọng vọng, mà thiên hạ cũng bắt đầu nhìn ngài như một giá trị vẫn còn đầy sức sống trong đời sống nhân loại ngày nay.
Một viện mang tên ngài được lập ở tận Hoa Kỳ, tại một nơi có thể được coi là danh giá  của trí tuệ hiện đại (Đại học Harvard), giải thưởng mang tên ngài lưu truyền giá trị của sự yêu thương và hoà giải nghe nói sẽ được trao cho những chính khách cũng ở một xứ Phật (Miến Điện) từng đối chọi nhau, rồi biết vì dân vì thời mà hoà giải, nâng đỡ lẫn nhau...

Lại thêm một tin vui khi bức tranh cổ cách nay đã bảy thế kỷ hoạ hình ảnh đức Điếu Ngự với danh xưng “Trúc Lâm Đại sĩ” từ chốn Vũ Lâm xuống núi để hướng về Yên Tử đã hiển lộ để mọi người được chiêm ngưỡng... Tất cả như điềm báo về một thời mà những giá trị từ tấm gương của ngài sẽ giúp chúng ta lấy lại không ít những sự khôn ngoan và bản lĩnh của một dân tộc làm nên nhiều kỳ tích vẻ vang, nhưng cũng hay vô tâm để rơi vãi những tinh tuý của ông cha để lại...

Suy ngẫm những điều này trên đỉnh Yên Tử vào một ngày mây mù không che khuất nổi ánh mặt trời ngay cả lúc hoàng hôn.