>> Đi là sống
>> Đi là bản sắc...?
>> Đi để biết yêu thương
>> Đi, để khác!
>> Về cái sự đi của người Việt...
>> Vì sao đi?
>> Ca sĩ và những chuyến bay show
>> Đi & Người Việt đi

Chữ đi trong từ điển nói: Người, động vật tự di chuyển bằng những động tác liên tiếp của chân, lúc nào cũng vừa có chân tựa trên mặt đất, vừa có chân giơ lên đặt tới chỗ khác.

Có thể đi trên cạn, dưới nước, trên không bằng các phương tiện. Cho đến phút cuối cuộc đời cũng cưỡi hạc đi về trời.

Có bác theo “chủ nghĩa xê dịch”, đi suốt, có ông “giang hồ mê chơi quên quê hương”, lại có người “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Đi chơi bao giờ cũng có cái hay, cái vui, có du mới có lịch. Đi tù, đi cải tạo, phát vãng, đi đày, nghe đã sợ. Đi thi là kiếp nạn học trò.

Levitan, danh hoạ Nga có bức tranh con đường. Đó là một con đường điển hình của đế quốc Nga - La - Tư thế kỷ 19. Con đường lầy lội, hoang vắng chạy tít về chân trời mù mịt, hai bên là rừng taiga và những vạt ruộng đang ngủ đông. Không một bóng người. Có một lối rẽ vào làng thôn nào đó ở… ngoài khung tranh. Màu sắc tranh vàng úa, ủ dột. Chỉ có thế thôi mà người Nga nức nở. Mỗi lần xem tranh lại như nhìn thấy những đoàn người bị đày đi Sibêria đang lê bước chân xích xiềng, lội bùn vào xa xăm, xa đến nỗi chẳng ai mơ có ngày trở về…

Bây giờ không có ai đi vu vơ. Đi công tác, đi tham quan học tập nước ngoài, đi du lịch, đi ăn cưới, ăn giỗ, đi thăm thân, kể cả đi phượt cũng có nơi đến, nẻo về. Qua rồi cái thời lữ khách dừng chân quán trọ, gặp ý trung nhân dừng lại một đời. Cũng chẳng còn huyền thoại ông “chủ tịch huyện” Từ Thức lên động hoa đào, gặp một em tiên, ở lại chơi vài tối, lúc về thằng cháu gọi bằng cụ đã râu dài đến rốn.

Tôi cũng từng vào chiến trường thời chống Mỹ, sau đó về được đi Tây. Lúc đi “Balô con cóc, anh đi em khóc”, sau này “Balô chữ nhật (vali) anh đi em gật”. Khi đất nước mình có tầu bay, xe máy lạnh, tầu nằm, đi nhiều hơn. Lên rừng, xuống biển, ra đảo, chỗ nào cũng có cơm rượu, cũng có một, hai, ba, dzô! Ở các tỉnh Việt Bắc, Tây Bắc sau mỗi ly lại bắt tay nhau một cái. Có ông bạn người Mường đùa “sờ tay một tí”, đến lúc say bét nhè, nói nhịu thành “sờ tí hai tay”. Vui lắm, “Ở đồn Mang Cá (bao giờ cũng) vui hơn ở nhà”!

Có những chuyến đi nhớ mãi. Năm 1968 tôi một mình một xe đạp, ngày nghỉ đêm đi, 5 ngày từ Hà Nội vào tới bờ sông Bến Hải. Ngủ nhờ nhà dân, ai cũng cho ăn không lấy tiền. Thời chiến tranh gian khổ, dân nghèo, củ khoai, miếng sắn cõng vài hạt cơm, nhưng tình người giản dị, sâu lắng. (Bây giờ có mơ cũng không thấy. Đi công tác ăn tiền chùa, ngủ tiền chùa, về lại có công tác phí, nghỉ thấy cũng  phí tiền dân, nếu chẳng làm được gì ích nước).

Lúc tôi đạp quay ra Bắc, một cô dân quân tiễn tôi qua Truông Nhà Hồ, chia tay bịn rịn, cô đưa cho tôi mo cơm. Tới đất Quảng Bình ngồi dưới rặng phi lao trên cồn cát trắng xoá, mở ra ăn, chỉ là 9 phần khoai một phần gạo, có một miếng cá kho nhỏ đầy ớt và tiêu, cay xè, có phần vì đói, ăn ngon như ăn sâm. Từ đấy đến giờ chẳng còn miếng nào ăn thấy cảm động và ngon hơn.

Một đêm ở Wasington D.C tôi rời khách sạn Hilton đi bộ lang thang. Tôi rủ một ông già da đen vô gia cư vào một quán rượu nhỏ. Hai người uống vã hết một chai. Ông nói tiếng Tây đen, tôi nói tiếng da vàng. Tiếng Mỹ vài câu bập bẹ, thế mà hiểu nhau. Vùng quê Châu Phi chân đất cũng nghèo như quê mẹ tôi, đến giờ đi ăn cỗ mời, gia chủ vẫn phát mỗi mâm 6 túi nylon, thịt cá giò chả mang về cho cháu, các cụ chỉ đánh hết âu cơm và bát canh xương nấu chuối xanh. Cỗ cũng khá mà không nuốt nổi, chỉ dùng mỗi chai nút lá chuối, uống vã như hồi ở D.C.

Một đêm trắng tháng 6, chúng tôi rủ nhau ra bờ biển Baltic. Mặt trời không lặn, chỉ sà xuống chạm vào biển rồi lại đi lên. Trong ánh sáng huyền ảo như đèn sân khấu, nhìn vào mắt nhau đứa nào cũng long lanh như định nói một điều gì đó (?). Cả hội hẹn nhau nhớ tập hợp trước 1 giờ đêm. Tôi loanh quanh thế nào trễ 5 phút. Giờ này các cây cầu ở Leningrad (Saint Peterburg bây giờ) đã cất lên cho tàu thuyền đi lại. 5 giờ sáng mới nối giao thông. Một cô gái cũng lỡ độ đường như tôi. "Làm gì đến sáng, anh?". "Cũng đang định hỏi em câu đó".

Đi loanh quanh đúng là mỏi mệt thật. Chuyện trò cũng chẳng đâu vào đâu. Nếu là thằng bạn nam vào bar làm chai rượu nho Gruzia thì tuyệt. Cô gái: "Anh có yêu vợ không?". "Nhiều là đằng khác, lúc nào cũng nhớ". Em chỉ có ba má để nhớ, má em kỳ lắm, lấy chồng, đẻ con vẫn còn nhớn, cao hơn mấy phân"… im lặng một lát.

"Tháng sau về nước em cũng lấy chồng, anh bảo em lấy ai?". "Lấy một thằng nhiều tuổi như anh… nhưng giàu hơn, làm quan càng to càng tốt". Cô thở dài, không phản đối. Gió từ phía Phần Lan thổi sang làm xào xạc những hàng bạch dương, nghe như tiếng than vãn…

Có những chuyến đi hoành tráng vòng quanh thế giới, ngồi tầu bay mấy ngày giời. Từ Hà Nội sang Chile, rồi lại từ Santiago de Chile bay lên Bắc Mỹ. Đúng đêm rằm, tôi phát hiện trăng ở vùng này to gấp mấy lần trăng ở ta, cứ như cái mâm gỗ sơn son đỏ lừ lơ lửng giữa trời. Có lẽ mình bay cao nhìn trăng to thế, rõ thế chăng?

Có chuyến đi suốt ngày qua sa mạc Châu Phi, tối hôm ấy chúng tôi ăn bên bếp lửa, vừa nốc rượu vừa lắc lư theo tiếng trống bập bùng và những thân hình các vũ nữ bản làng đen bóng nhẫy, lắc đến muốn bung cả 3 vòng. Khuya ngủ boong-ga-lô, nhà tròn, tường đất lợp lá điển hình của Châu Phi. Tôi thuộc loại già làng trưởng bản nên được ngủ một mình.

Người thứ hai cũng có tiêu chuẩn ngủ một mình là cô gái Việt xinh tươi, phiên dịch của Bộ Ngoại giao Nam Phi. Tiếng là nhà đất nhưng nội thất như khách sạn. Đêm sa mạc đầy tiếng sư tử gầm, voi rống gọi đàn, tiếng chân tê giác chạy huỳnh huỵch. Lại có cả tiếng chim rừng ăn đêm, kêu rủ rỉ rù rì như đêm rừng Việt Bắc. Bỗng có tiếng gõ cửa gấp. Cô gái: "Anh cho em vào ngủ chung với, bên kia bọn đàn ông nó cứ đập cửa ầm ầm đòi vào. Cả Tây lẫn ta, có cả thằng Mỹ đi săn tê giác cũng quậy".

Tôi nhường giường cho cô, nằm trên chiếc đivăng kề bên. Trò chuyện vài câu rồi chuyển sang giai đoạn lắng nghe tiếng thở của nhau. Rồi một con chim cu rừng gáy vang gọi bình minh sa mạc, gọi cả tôi dậy. Sáng hôm sau cả Tây lẫn ta nhìn tôi mắt trong veo thán phục. Bọn phổi bò!

Về nước tôi viết một bài về chuyến đi. Cũng có nói đến chim cu Châu Phi, cũng "cúc cù cu" như cu cườm của ta, bổ thêm một lèo "cù cù". Nó cứ hót đều đặn 5 tiếng, tôi dịch ra tiếng người theo nhịp điệu chim "Con chim kêu gì chim ơi? Con chim kêu gì chim ơi?”. Ít ngày sau chắc có đọc bài tôi, từ sứ quán cô phôn sang: "Viết khéo thế", tắt máy cái rụp.

Đi để mà nhớ cũng là một cách đi.