Nguyễn Văn Vĩnh thuộc lớp người theo xu hướng Duy Tân. Đó là một trào lưu chính trị và văn hoá hình thành và tác động mạnh mẽ vào xã hội Việt Nam ở đầu thế kỷ trước mà ở miền Bắc, tập trung ở thành phố Hà Nội là phong trào lập nghĩa thục (trường học kiểu mới) và các cuộc vận động quần chúng cũng theo nguyên lý chung của Phong trào Duy Tân là “khai dân trí - chấn dân khí - hậu dân sinh”.

Một trong những trung tâm của phong trào ở Hà Nội là Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ cử Lương Văn Can làm thục trưởng (hiệu trưởng). Trong số những người tham gia sáng lập có Nguyễn Văn Vĩnh, ông cũng là một người hăng say đưa những nhân tố mới vào đời sống xã hội thị dân như làm báo, diễn kịch, làm phim, dịch thuật... và đặc biệt là vận động phát triển chữ quốc ngữ.

Năm 1907 là năm lập Đông Kinh Nghĩa Thục, cũng là năm tờ “Đăng Cổ Tùng Báo” (vốn phát triển từ tờ công báo Đại Nam Đồng Văn của chính quyền) trở thành một tờ báo song ngữ (Hán - quốc ngữ). Vì ông Vĩnh là chủ bút nên tờ báo cổ xuý cho công cuộc Duy Tân. Năm ấy cũng là năm thành phố Hà Nội tổ chức bầu cử Hội đồng Thành phố, một dấu ấn mới trong đời sống chính trị của các đô thị thuộc địa ở nước ta.

Mới rồi, trang thông tin này có giới thiệu một bài viết của ông Vĩnh đăng trên tờ “Đăng Cổ Tùng Báo” xuất bản ở Hà Nội cách nay đã 105 năm. Đó là bài báo bàn “Về việc bầu hội viên thành phố” (25.4.2907). Đọc bài báo kể chuyện hơn trăm năm trước các cụ nhà ta, những cư dân của thành phố Hà Nội thời thuộc địa, bàn chuyện về cơ quan quản lý của thành phố cũng mang lại cho người đọc hôm nay những hiểu biết thú vị để nhận ra sự đổi thay của thời gian lịch sử. Và nghiên cứu sự hình thành một bộ máy “chính quyền đô thị” thời thuộc địa cũng sẽ rất bổ ích cho việc xây dựng bộ máy quản lý thành phố ngày hôm nay trước một thực tiễn là Hà Nội cũng như các thành phố khác trong cả nước đến nay vẫn chưa có “chính quyền đô thị”!

Kể từ năm 1888, vua Đồng Khánh đã giao cho thực dân Pháp lập những khu đất nhượng địa ở Hà Nội, Hải Phòng và Tourane (nay là Đà Nẵng). Nhu cầu phát triển thuộc địa khiến thực dân Pháp khẩn trương áp đặt những hình thức tổ chức hoàn toàn mới: Thành lập tại ba nơi này cơ chế “thành phố” như ở chính quốc bằng sắc lệnh do đích thân Tổng thống Pháp ký.

Với thành phố Hà Nội, bên cạnh một quy hoạch hạ tầng nhằm biến một đô thị cổ, cũng là một cố đô thành một thành phố mang dáng dấp hiện đại, luật của nước Pháp cũng thiết lập tại các thành phố đó một “chính quyền đô thị” mà hạt nhân là một “hội đồng thành phố”. Thực ra, vua Đồng Khánh chưa kịp ban chỉ dụ “cấp đất” thì Tổng thống Pháp đã ra sắc lệnh thành lập Thành phố Hà Nội vào ngày 19.7.1888 và trước đó, từ 1885 vì sự có mặt của cộng đồng người Pháp ở khu vực này nên Hội đồng Tư vấn đã được thành lập.

Kể từ khi lập thành phố là có chức thị trưởng, thường do Toàn quyền, sau này là Thống sứ chỉ định trong các quan chức dân sự người Pháp, nhưng điều quan trọng là viên thị trưởng này phải điều hành bộ máy chính quyền theo những quyết định và sự giám sát của một Hội đồng Thành phố. Hội đồng này ban đầu gồm 12 thành viên người Pháp đại diện cho cộng đồng người Âu (chừng 4.000 người vào đầu thế kỷ XX), 2 đại diện cho người Hoa (thành phần chi phối hoạt động thương mại trong thành phố) và 2 đại diện người Việt. Nhưng đến năm 1907 thì thành phần người Hoa bị gạt bỏ để dành trọn 4 “ghế” cho người Việt.

Bài báo của nhà vận động Duy Tân đã cổ vũ cho cuộc bầu cử theo quy cách “ở Hà Nội ta thì có 12 ông Tây và 4 ông An Nam bởi tự dân thành phố cử lên. Những người nào có nhiều nhà nhiều đất, hoặc nộp sưu thuế từ 15 đồng trở lên, các ông khoa mục từ 21 tuổi trở lên mà người ở thành phố tin phục...” thì được đi bầu “cứ ba năm lại một lần bầu lại” để chọn những người làm tốt, gạt người làm xấu...

Bài báo cũng khích lệ các vị ứng cử là người An Nam tuy bị lép vế so với các ông Tây khi bảo vệ lợi ích của người Nam, nhưng vẫn góp phần bảo vệ và thúc đẩy những lợi ích chung của cả thành phố mà người Nam cũng được hưởng. Tác giả cũng cảnh báo về năng lực giao thiệp với người Pháp đã khó, “gặp phải ông hội viên dốt còn khá nhưng vô phúc gặp phải người chỉ mong làm quan, mong phẩm hàm mề đay, thì có khi chỉ hại thành phố... vì các ông ấy muốn được thưởng phẩm hàm thì tất phải nhác việc lợi dân, chỉ cốt làm thế nào Nhà nước bằng lòng mà thôi”, và kết luận “Cứ như thế, thì cái quyền của bốn ông hội viên mình cử lên là to thật, nhưng quyền ấy cũng là hàng phố giao cho, phải làm cho hàng phố được nhờ thì mấy xứng đáng được quyền dân giao cho”...

Bài báo còn hướng dẫn những cử tri đủ tiêu chuẩn (về tài sản và học lực) tham gia bỏ phiếu cho đúng quy cách và gợi ý tên tuổi những người đáng được bầu. Bài báo thực sự là một văn kiện vận động tranh cử buổi sơ khai của những nhà Duy Tân đối với một sự kiện của thành phố.

Đọc lại tư liệu cho biết, trong cuộc bỏ phiếu đầu tiên, không bàn đến việc bầu đại biểu Tây, chỉ có một đại biểu người Việt đủ số phiếu bầu là Đỗ Thận, một nhà báo và chuyên làm sách đứng đầu một hội dịch thuật đương thời. Phải thêm một kỳ bầu bổ sung mới thêm được ba vị nữa là nhà doanh nghiệp Bạch Thái Bưởi, trạng sư Đỗ Đình Thuật và Trần Viết Soán đắc cử. Trong số những người không đủ phiếu có cả cụ cử Lương Văn Can, ông Vĩnh cũng tranh cử nhưng rồi rút lui vì mới 25 tuổi, chưa đủ 27 tuổi theo quy định.

Nói về cuộc bầu cử Hội đồng Thành phố Hà Nội thời thuộc địa, ai cũng có thể nhận ra một cơ chế chênh lệch giữa đại biểu người Pháp và Việt, cho thấy tính chất thực dân phục vụ những mục tiêu khai thác thuộc địa. Tuy nhiên, chức năng mang tính chất quyết định của Hội đồng 16 thành viên ấy lại mang sắc thái dân chủ đối với việc điều hành và xây dựng thành phố khi viên thị trưởng dù do chính quyền chỉ định nhưng lại phải chịu sự định hướng và giám sát của Hội đồng Thành phố.

Nói như vậy để thấy rằng, trong lịch sử đô thị phổ biến trên toàn thế giới ngay từ thời cổ đại cho đến ngày nay, một cơ chế bảo đảm yếu tố “dân chủ” hiểu theo nghĩa là những khế ước xã hội giữa những cư dân không bị chi phối bởi những quan hệ, tập quán truyền thống... luôn là một đặc trưng tiêu biểu. Thiếu nó, quản lý đô thị sẽ... không ra đô thị.

Trong hơn 60 năm thiết lập chế độ cai trị thuộc địa ở nước ta nói chung, thành phố Hà Nội nói riêng, cơ cấu “chính quyền đô thị” là một nhân tố rất quan trọng. Xin dẫn một chi tiết về sự vận hành của cơ cấu mang tính chất dân chủ ngay trong một đô thị thuộc địa: Dù các thị trưởng là do người đứng đầu thực dân (Toàn quyền hay Thống sứ) chỉ định trong số những quan chức dân sự thuộc quyền, nhưng sức ép và sự vận hành quyền lực của Hội đồng Thành phố trong đó có 4 đại diện người bản xứ đã buộc chính quyền thuộc địa phải đáp ứng các yêu cầu của cư dân sống trong thành phố. Do vậy mà chỉ trong vòng 60 năm (1885-1945), theo thống kê đã có tới... 49 lần thay đổi thị trưởng.

Chính nhờ cái cơ chế “chính quyền đô thị” ấy đã tạo nên một thành phố Hà Nội thực sự cả về quy hoạch hạ tầng, kết cấu tổ chức cư dân... và trong chừng mực nào đó đã tạo ra một lối sống thị dân hiện đại với hệ thống luật pháp, tạo thành những tập quán và có thể nói là một “văn hoá đô thị”.

Đáng tiếc cái cơ chế ấy đã không được tiếp thu kể từ khi chúng ta tiếp quản thành phố (chủ yếu từ tháng 10.1954). Một cơ chế “chính quyền nhân dân” phổ quát cho cả đô thị lẫn nông thôn cùng với những chính sách có phần kích thích xu hướng “nông thôn hoá thành thị” lấn át đã làm cho những nỗ lực đầu tư to lớn về quy hoạch và xây dựng hạ tầng tuy có đạt được những thành tựu nhất định mà thành phố... vẫn không ra thành phố.

Giờ đây nhiều người cứ mải mê đi tìm cái “thanh lịch của người Tràng An”. Lấy đâu ra tư liệu mà hình dung về cái ý niệm mơ hồ ấy. Nhưng hoàn toàn có thể nhận ra một phong thái, một tính cách Hà Nội trong đời sống đô thị thời thuộc địa với nhiều nhân tố có thể không còn thích hợp, thậm chí phản động về mặt chính trị do thuộc tính thực dân của chế độ cũ, nhưng lại là một di sản phong phú đáng thừa kế của một nền tảng văn hoá đô thị trên cơ sở tiếp nhận văn minh Tây phương mà vẫn giữ được nhiều nền nếp tốt đẹp của truyền thống.

Đọc bản dự thảo “Luật Thủ đô” lần thứ hai rồi, chỉ thấy đưa ra những giải pháp đặc thù và đặc quyền cho Hà Nội, bàn về việc hạn chế cư dân ngoại tỉnh và cho rằng đó là nguồn gốc những bức xúc, suy thoái của đời sống đô thị; hoặc dùng biện pháp “phạt nặng” để tạo ra dáng vóc văn minh của thủ đô... trong khi đó dường như không bàn đến cái cơ chế quyết định của cơ cấu chính quyền thích hợp, trước hết là một chính quyền đô thị, sau đó là một chính quyền đô thị của thủ đô một quốc gia.

Rất cần đến một cách suy nghĩ căn cơ, với những bằng chứng đã được lịch sử trải nghiệm trên địa bàn thủ đô hôm nay, dù của thời thuộc địa, mất nước. Vì lẽ đơn giản “chính quyền đô thị” với hạt nhân dân chủ của nó là một giá trị chung của sự phát triển xã hội.

Sự liên tưởng từ một bài báo bàn về “hội đồng thành phố” thời thuộc địa cách đây hơn một thế kỷ với những vấn đề đang nóng bỏng trên tiến trình phát triển của thủ đô xã hội chủ nghĩa hôm nay, quả thực có một khoảng cách rất xa về thời gian và những thay đổi lịch sử. Nhưng nó sẽ rất gần nếu ta luôn quan tâm đến tính kế thừa của những giá trị văn hoá.