Nhưng để nhà nước, doanh nghiệp, và người dân cùng chung sức gìn giữ và xây dựng, chứ chỉ “chính sách” không sẽ không bao giờ là đủ.

Theo ông Trần Quang Hưng (Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội Cấp thoát nước VN), tốc độ phát triển của DV cấp nước ĐT phát triển tương đối đồng bộ với phát triển ĐT. Đó là nhờ những chính sách của nhà nước và các địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ hợp tác. Ngay từ giữa những năm 90 của thế kỷ 20, các dự án cấp thoát nước đã được sự quan tâm quốc tế trước những biến đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội của VN. Nghị định 117 của CP ban hành 7.2007 về sản xuất và tiêu dùng nước sạch ĐT và khu công nghiệp quy định ro: “DV cấp thoát nước không hạn chế bởi địa giới hành chính, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh cấp nước sạch”.

Việc tập trung nguồn ODA cho cấp nước còn có một lợi ích đi cùng với các nguồn vốn tài trợ hoặc cho vay, đó là công nghệ và thiết bị hiện đại đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế, nhân tố tạo ra chất lượng sản phẩm và tác động đến cả quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Nhưng phải thừa nhận rằng trên thực tế, thực sự các hệ thống công trình cấp nước của chúng ta vẫn còn nhiều khiếm khuyết và chưa cân đối để đáp ứng yêu cầu. Ngoài những đô thị mới được thành lập, ở những đô thị khác, hệ thống cấp nước đã hình thành từ hàng chục, đến trên một trăm năm.Qua nhiều thời ky, hệ thống cấp nước các đô thị cũ được xây dựng, bổ sung một cách bị động, chắp vá để đáp ứng theo nhu cầu cấp bách, thiếu quy hoạch... và việc theo dõi quản lý hệ thống mạng lưới cũng rất khó khăn.

Việt Nam không phải là nước có nguồn tài nguyên nước dồi dào.

Những ĐT lớn và đặc biệt như TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng... khó khăn đó cứ kéo dài mãi đến tận ngày nay, do nhiều nguyên nhân việc đầu tư cũng chỉ tập trung chủ yếu vào xây dựng nhà máy, phát triển nguồn, tăng công suất cấp nước. Nhưng việc phát triển mạng lưới, thay thế ống mục gặp rất nhiều khó khăn do sự tăng nhanh về dân số, và công trình dân dụng, nhà ở, giao thông ĐT, nên việc phát triển mạng lưới đường ống truyền tải và dịch vụ triển khai rất chậm và gặp rất nhiều khó khăn trong xây dựng, cải tạo, hạn chế việc phát huy công suất và nâng cao độ bao phủ dịch vụ và là nguyên nhân chính tạo nên tình trạng thất thoát nước lớn tại các ĐT đó, ảnh hưởng cả đến chất lượng sản phẩm.

Nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn nước cần được đặt lên hàng đầu để không những nhà nước, các địa phương mà nhân dân cũng cần thấy rõ VN không phải là đất nước có nguồn tài nguyên nước dồi dào. Theo tài liệu khảo sát và nghiên cứu về địa chất thủy văn đã được công bố, trữ lượng tiềm năng của các phức hệ chứa nước ngầm ở nước ta tương đối phong phú nhưng phân bố không đều theo các địa phương.

Hiện nay hàng năm có thể khai thác trên dưới 1 tỷ m3 (khoảng 2-3 triệu m3/ngày). Khoảng 30% tổng lượng nước cấp cho các đô thị ở nước ta hiện được khai thác từ nguồn nước ngầm. Ngoài ra, những tác động do biến đổi khí hậu và tình trạng nước biển dâng là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nước ngọt cho các đô thị giáp biển, nhất là TP Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Sự ô nhiễm các dòng sông do chặt phá rừng, xả chất thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt không qua xử lý đang là những hiện tượng báo động cho nguồn nước mặt, tác động đến cả nguồn nước ngầm đang có diễn biến xấu và bất thường. Vì vậy, phải tăng cường các biện pháp tổng hợp và mạnh mẽ, đẩy mạnh truyền thông, vận động trong cộng đồng để bảo vệ nguồn nước.

Vũ Quỳnh Hương