Tuần cuối cùng của mỗi năm đều có ngày Giáng sinh. Từ 40 năm nay luôn gợi lại cho một thế hệ người dân Hà Nội, Hải Phòng và một số vùng lân cận những ký ức về cuộc chiến quyết liệt mà phía Mỹ gọi bằng mật danh Linebacker II, dư luận thế giới không đồng tình với việc bắn giết và báo chí muốn khai thác thời điểm diễn ra sự kiện thì gọi là "cuộc giội bom Giáng sinh 1972", còn phía Việt Nam ta thì tôn vinh là "Điện Biên Phủ trên không".

Có một ngày lịch âm ứng với đêm 26.12.1972 trở thành ngày giỗ chung của nhiều gia đình của gần ba trăm con người từng sống trên khu phố Khâm Thiên chết vì bom B52 trải thảm. Những số liệu  liên quan cũng đã được 2 bên từng đối địch nhau công bố, tuy số lượng có thể chênh nhau và thường là hạn chế những tổn thất của phía mình và ngược lại, nhưng kết cục của trận đánh thì được khẳng định.

Thuyết phục nhất là bên tấn công buộc phải chấm dứt với sự thừa nhận đã không thành công và đặc biệt với sự tổn thất loại máy bay chiến lược B.52 đã đạt tới cái ngưỡng "không thể chịu nổi" để tìm mọi cách thoát ra khỏi cuộc chiến tranh gây tổn thất về tinh thần và chia rẽ quốc gia để đi tìm một chiến thắng khác; còn một bên thì đạt được một chiến thắng bước đầu, loại đối thủ chính ra khỏi cuộc chiến để rồi chỉ hơn hai năm sau đạt được một chiến thắng toàn cục cho một mục tiêu cao nhất là thống nhất quốc gia và chế độ.

Cuộc chiến ấy bùng nổ sau khi cả hai bên tham chiến tưởng như đã đạt được một thoả thuận để ký tắt rồi tiến tới ký chính thức..., thì sự việc lại thay đổi 180 độ. Phía Hà Nội thì tố cáo đó là một sự lật lọng hòng gây bất ngờ cho đối phương. Phía Mỹ thì lấy lý do chính quyền Sài Gòn- một trong 4 thành phần của Hội nghị Paris- vẫn chưa đồng thuận với vô số những điều phải sửa lại.

Những công bố gần đây của cả hai phía đều cho thấy, việc Mỹ ném bom trở lại đã được công khai báo trước như một sức ép từ phía Mỹ để buộc đối phương phải nhượng bộ. Tuy vậy, việc không tập trung được một hoả lực mạnh nhất vì một số đơn vị tinh nhuệ đã và đang được vận chuyển về phía nam khiến cách đánh giá hai chiều : Chỉ một lực lượng như vậy mà Hà Nội vẫn đủ sức đương đầu với cuộc tập kích bằng B.52 và gây tổn thất cho đối  phương, mặt khác cũng cho thấy lẽ ra cục diện trận đánh có thể sẽ khác nếu... Nhưng lịch sử vốn không chấp nhận chữ "nếu".

Và đọc tài liệu của cả hai phía mới thấy, bên cạnh những tính toán định lượng bằng những con số bom đạn sử dụng, tổn thất của mỗi bên... thì cái quyết định lại là ý chí của những con người trong cuộc chiến. Chấp nhận dừng ném bom trước nửa đêm ngày 29.12, tuy phía Mỹ có đưa ra giải thích rằng đã nhận được tín hiệu "xuống thang" từ phía bên kia, nhưng căn bản là thấy có tiếp tục ném bom cũng không giải quyết được vấn đề vì sau ngày nghỉ Tết dương lịch, Quốc hội Mỹ sẽ có những cuộc họp mà chiến tranh là điều mà dân chúng Mỹ không chấp nhận và những tổn thất của B.52 cũng là điều không thể chấp nhận. Phía bị tấn công thì cũng cho thấy, nếu Mỹ vẫn tiếp tục ném bom thì khó khăn chủ yếu vẫn là những tên lửa không kịp bổ sung, còn ý chí thì dường như chưa phải là điều cần bàn tới.   

Câu chuyện về sự lật lọng và những thủ đoạn của phía Mỹ mà chủ yếu quy vào trách nhiệm của Tổng thống đương thời là R.Nixon và mưu sĩ chủ chốt về ngoại giao là tiến sĩ Henry Kissinger và về quân sự là viên tướng diều hâu- vốn là môn đệ của người đã đưa lời đe doạ sẽ đưa "Bắc Việt Nam trở về thời đồ đá" (tướng Curtis Lemay)- thì không những phía Việt Nam, mà nhiều nhà báo hay sử gia ngoại quốc đã phân tích và lên án từ rất sớm.

Nhưng lùi lại với thời gian, xâu chuỗi các sự kiện lại thì không thể không gắn cuộc không kích quy mô "rất khủng" vào mùa Giáng sinh 1972 với bản Thông cáo Thượng Hải đã được ký kết trước đó gần nửa năm, mà nối dài sự kiện có thể nhắc đến gợi ý của Đại sứ Pháp ở Sài Gòn với Tổng thống Dương Văn Minh về khả năng người đồng minh chiến lược phương Bắc của chúng ta  muốn đứng ra dàn xếp để tránh sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ Sài Gòn; rồi đến sự kiện Hoàng Sa 1974, Polpot và chiến tranh biên giới phía tây nam và phía bắc..., cho đến biển Đông hôm nay.

Chính Điện Biên Phủ trên mặt đất (1954) và trước đó là cuộc ''Viện Triều  chống Mỹ'' đã dọn đường cho nước Trung Hoa mới bước lên vũ đài quốc tế. Còn chính quá trình giúp Việt Nam đánh Mỹ với tinh thần 800 triệu nhân dân Trung Quốc là hậu phương vĩ đại, đã mở đường cho Thông cáo Thượng Hải được ký kết và không chỉ Mỹ chuyển hướng chiến lược...

Ai cũng biết rằng suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong đó có chiến tranh phá hoại của Mỹ đánh ra miền Bắc Việt Nam, Liên Xô và Trung Quốc cũng như các nước thành viên trong "đại gia đình xã hội chủ nghĩa" đã viện trợ quân sự cho chúng ta như một "nghĩa vụ quốc tế" để chúng ta cùng bằng xương máu của mình hoàn thành "nghĩa vụ quốc tế" bên cạnh quyết tâm thực hiện những mục tiêu của chính mình. Trong thời Chiến tranh lạnh, khi hai khối từ xung đột về hệ tư tưởng dẫn đến sự đối đầu nhau bằng súng đạn thì khó có thể nói một chiều rằng ai giúp ai để mà nên ơn hay oán.

Nói đến "Điện Biên Phủ trên không" đương nhiên là phải nhắc đến thủ đô đã thăng hoa thành "Hà Nội phẩm giá con người" như tên gọi một bài xã luận Báo "Nhân Dân" tôn vinh ngay trong những ngày khói lửa khốc liệt ấy. Nhưng đừng quên Hà Tây cửa ngõ (nay đã nhập vào thủ đô), Vĩnh Phúc với lá chắn của rặng Tam Đảo và rất nhiều địa phương đã chia lửa và tiếp sức cho Hà Nội hay khẩu hiệu lúc đó "Hà Nội kêu gọi, miền Nam trả lời!" đã tạo nên cả một cục diện để dẫn tới kết cục của toàn bộ chiến trường.

Nhưng dường như trong những ngày kỷ niệm này, thành phố Hải Phòng ít được nhắc tới đúng với tầm mức của sự hy sinh và tầm vóc của cuộc chiến đấu kiên cường cả trên bầu trời, mặt đất và ngoài biển. Việc Mỹ thả thuỷ lôi phong toả cảng Hải Phòng - cửa ngõ quan trọng nhất cho các nguồn viện trợ từ nước ngoài, đặc biệt là Liên Xô nếu không sử dụng đường bộ bắt buộc phải ngang qua lãnh thổ Trung Quốc. Bối cảnh phức tạp của thời kỳ chuyển đổi các mối quan hệ chiến lược giữa ba nước lớn có liên hệ trực tiếp đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam và trên bán đảo Đông Dương, không thể không được nhìn nhận. Việc phong toả và đánh vào Hải Phòng không thể coi chỉ là một không gian phụ của chiến dịch Linebacker II và không chứa đựng những thông điệp của Mỹ đối với những đồng minh của Việt Nam.

Có thể nói, một sự kiện kéo dài liên tục đầy kịch tính của 12 ngày đêm từ 18 đến 29.12 cách đây 40 năm cũng tạo ra một kịch bản cho cuộc kỷ niệm vừa rồi một quy mô ít sự kiện nào sánh nổi. Nó lại diễn ra trong một bối cảnh lịch sử thay đổi rất nhiều qua những trải nghiệm của bốn thập kỷ vừa qua. Một nước Mỹ đã thay đổi rất nhiều, trong đó không phải không có tác động mạnh mẽ của "bài học Việt Nam", để rồi sau thời cấm vận và thù địch đã bước qua thời mà sự hoà giải, cải thiện và phát triển mối quan hệ Việt - Mỹ đã đi được một chặng đường dài.

Ảnh xác B.52 trên hồ Ngọc Hà, Hà Nội.

Nước Nga cũng như nhiều quốc gia vốn là đồng minh với chúng ta ở Đông Âu trải qua những đảo lộn to lớn, nhưng cũng dần ổn định và phát triển mà vẫn giữ được những mối quan hệ như đã từng có với Việt Nam một cách thực tiễn và hiệu quả hơn trong công cuộc xây dựng hoà bình. Trung Quốc thì vẫn còn là một mẫu hình ảnh hưởng đối với Việt Nam, cho dù đã trải qua cả một cuộc chiến tranh biên giới không kém khốc liệt những xung đột lợi ích và cả những nỗ lực hàn gắn, bồi đắp mà quan trọng hơn hết là niềm tin của hai quốc gia có chung biên giới cả trên đất liền lẫn biển cả lại có quá nhiều những trải nghiệm trái chiều trong lịch sử lâu dài, đến nay vẫn còn là một thử thách.

Bốn mươi năm nhìn lại trong sự sống động của thử thách thời gian khiến "Điện Biên Phủ trên không" mang một thông điệp quan trọng hàng đầu- không chỉ với lực lượng vũ trang là "kẻ thù nào cũng đánh thắng" và biết cách tiến hành cũng như kết thúc chiến tranh bằng sức mạnh của trí tuệ và ý chí của cả một dân tộc luôn mưu cầu hoà bình. Sự kiện bốn mươi năm trước phải được nhìn lại trong bối cảnh hôm nay.

Bốn mươi năm mà chúng ta đã chứng kiến sự đổi thay rất nhiều của đất nước chuyển đổi từ chiến tranh sang hoà bình và hội nhập. Câu chuyện 40 năm trước không chỉ là sự đụng độ của vũ khí, mà còn là sự đụng độ về ý chí và những phẩm chất của con người. Với lịch sử, không nên đặt ra những giả thiết về hoàn cảnh sẽ lặp lại như 40 năm trước để so sánh với hôm nay. Nhưng lịch sử cũng cho ta thấy bài học đắt giá là một dân tộc suy hay thịnh đều biểu hiện qua phẩm chất của con người, mà kết tinh của nó còn ở tầng lớp lãnh đạo xã hội.

Ngoảnh lại 40 năm trước rồi quay lại nhìn vào hôm nay và mai sau chính là một đòi hỏi của con người muốn vươn lên phía trước. Chiến công dù oai hùng đến mấy cũng thuộc về quá khứ và luôn ở phía sau lưng. Bởi vậy, ngoái nhìn lại tựa như là soi vào lịch sử, còn lịch sử tựa như một tấm gương chiếu hậu của một cỗ xe, nó không bao giờ để chắn trước mặt mà nó luôn để ở nơi nào dễ nhìn thấy nhất, để trên con đường tiến lên phía trước ta kịp nhìn những cái đã qua mà vững tâm đi tới với tất cả trải nghiệm của chính mình hay của các thế hệ đi trước trao truyền lại.

Vào dịp xuân này, bạn có dịp đến làng hoa Ngọc Hà năm xưa, nay chỉ còn là một khu dân cư chen chúc nhà cửa;  hồ Hữu Tiệp chỉ còn là một vũng nước tù túng và ô nhiễm. Những cánh hoa và cô gái Ngọc Hà tưới gánh hoa tươi chỉ còn trong ảnh. Nhưng một phần xác của một chiếc B.52 rơi xuống cách đây 40 năm vẫn còn đó, nhưng đã mọt gỉ. Cho dù làm bằng vật liệu tiên tiến nhất, tưởng như bền vững nhất, nó vẫn bị thời gian và cả sự quên lãng bào mòn.

Cứ nhìn vào di tích này thì biết chắc rằng đến một lúc nào đó, có thể là không xa lắm, dấu tích 40 năm cách nay sẽ không còn nữa. Chỉ còn ký ức là có thể lưu giữ được. Nhưng với ký ức thì cái quyết định sự còn hay mất lại chính là niềm tin vào những những người đang được kế thừa cái giá trị sẽ trở thành vô hình ấy.