- Về mặt lý thuyết, tỉ lệ nợ công của VN trên GDP khoảng 64-65%. Đây chưa phải là mức quá nguy hiểm, nếu so với nhiều nước thì tỉ lệ này còn cao hơn nhiều. Điều đáng lo ngại thì kiểm soát hiệu quả đầu tư công của VN gặp nhiều khó khăn. Vì vậy hiệu quả đầu tư công ở một số lĩnh vực khá thấp.

Không thể phủ nhận trong 10 năm qua, nợ công tăng trưởng nhanh. Đi đều với nó, đầu tư cho cơ sở hạ tầng cũng được tăng tốc và làm thay đổi hệ thống giao thông, sân bay, bến cảng, hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Đầu tư công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục góp phần cải thiện trụ cột lĩnh vực kinh tế dài hạn.

Tuy nhiên, trong 3 lĩnh vực này, chất lượng đầu tư công là vấn đề mà nhiều người quan tâm. Đặc biệt là ở Việt Nam, chi tiêu ngân sách và đầu tư công không có cơ quan nào đánh giá lại hiệu quả dự án đầu tư để đưa ra kết luận, bổ sung nâng cấp hay đình chỉ dự án kịp thời, giảm thiểu dự án thất thoát kéo dài, đắp chiếu không có hiệu quả, nhất là mảng đầu tư công nhằm vào các dự án do DNNN đầu tư như gang thép, phân đạm, Vinashin, Vinaline… Việc kiểm soát hiệu quả đầu tư rất thấp.

 Như vậy, theo ông, ngoài lý do chúng ta thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả đầu tư công và đánh giá lại đầu tư công để điều chỉnh thì còn có nguyên nhân từ khu vực DNNN?

- Đúng vậy, theo tôi, cần chấm dứt đầu tư công vào khu vực công nghiệp do DNNN làm chủ đầu tư. Đây là sự khác biệt lớn của đầu tư công của Việt Nam so với khu vực. Ở các nước, người ta đầu tư chủ yếu cho cơ sở hạ tầng cứng và hạ tầng mềm, còn danh mục đầu tư khác huy động tư nhân, trong nước và quốc tế để tài trợ.

Tôi lấy ví dụ rất hiện hữu là dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - Hà Đông. Các chuyên gia Trung Quốc cho rằng, năng lực kiểm soát đầu tư công rất yếu kém. Lý do chủ yếu là do phía Trung Quốc thực hiện là DNNN, phía Việt Nam cũng là DNNN, không kiểm soát được chất lượng, tiến độ và các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ như mong muốn của hai Chính phủ.

Trong bối cảnh hiện tại nếu chúng ta giảm thiểu, ngừng đầu tư công vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng cứng và mềm thì khó tạo ra nền tảng kỹ thuật, hạ tầng để phát triển dài hạn. Vì vậy, tôi ủng hộ xu hướng tiếp tục dành khoản ngân sách để đầu tư vào lĩnh vực then chốt này, tuy nhiên, tốt nhất nên giảm thiểu đến mức tối đa hoặc chấp dứt các dự án đầu tư vào khu vực công nghiệp hoặc góp vốn đầu tư khu vực công nghiệp trong và ngoài nước. Đặc biệt là dự án do DNNN làm chủ đầu tư.

Có nhiều nghiên cứu trong nước cho thấy đầu tư công vào lĩnh vực công nghiệp do DNNN làm chủ đầu tư có chi phí rất lớn từ GPMB đến san lấp mặt bằng, mua sắm thiết bị, quản lý vận hành các dự án đều tạo ra chi phí bổ sung khổng lồ, thời gian để đưa dự án vào hoạt động không đạt được tiến độ, thậm chí không trở thành hiện thực.

Tôi rất mừng vì Nghị quyết của BCH TƯ năm vừa rồi tổng kết 15 năm thực hiện NQ về phát triển kinh tế tư nhân đã ban hành NQ TƯ 5 về tiếp tục phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có một phần quan trọng là xử lý nhanh và hiệu quả các DNNN. Điều này tuy được đề cập không nhiều thời lượng trong NQ TƯ 5 nhưng là vấn đề then chốt. Một mặt giải quyết được vấn đề đầu tư và hiệu quả đầu tư ngân sách, một mặt giải quyết được vấn đề đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng giữa DNNN và DNTN.

Ông Lê Xuân Nghĩa. Ảnh: T.L

Vậy theo ông, làm thế nào để nâng cao hiệu quả đầu tư công, nâng cao chất lượng nợ công, cũng như giảm thiểu đến mức an toàn tỉ lệ nợ công trên GDP trong thời gian tới?

- Có 4 giải pháp tiên quyết cần phải làm:

Thứ nhất, đừng nghĩ đầu tư công chỉ đơn thuần là khoản đầu tư. Hiệu quả đầu tư công phụ thuộc vào bộ máy nhà nước. Bộ máy này hưởng lương từ ngân sách chi tiêu thường xuyên nhưng trục lợi từ đầu tư công rất lớn. Đây là bộ máy phải chịu trách nhiệm về hiệu quả của đầu tư công, lãng phí, thất thoát đầu tư công.

Trước hết để kiểm soát hiệu quả đầu tư công tốt hơn, cần sắp xếp lại bộ máy công cụ chuyên nghiệp, hiệu quả, có trách nhiệm, quyền lợi rõ ràng, minh bạch và được trả lương xứng đáng để toàn tâm toàn ý phục vụ cho bộ máy hành chính nói chung và bộ máy quản lý, giám sát đầu tư công nói riêng.

Thứ hai, càng sớm càng tốt giảm thiểu tối đa dừng các dự án đầu tư công thông qua DNNN cho các khu vực công nghiệp, nơi hiệu quả kinh tế, tài chính đều phải được tính toán theo các chuẩn mực của kinh tế thị trường nói chung và chuẩn mực quốc tế về đầu tư và cạnh tranh. Đây là một môi trường rất khắc nghiệt vì chịu sự giám sát bởi bàn tay vô hình là thị trường. Chính phủ không nên đầu tư dựa trên tiền của Nhà nước; tiền vay ngân hàng, tiền trái phiếu Chính phủ ném vào các dự án như vậy thì hậu quả khôn lường vì quyết định đầu tư ở đây là Nhà nước, nhưng quyết định thành bại lại là thị trường.

Thứ ba, ở VN nói chung ra đời những chính sách, chủ trương đầu tư thường không có quy trình nghiêm ngặt từ việc khảo sát và tính toán hiệu quả đầu tư trên giấy, đặc biệt là nghiên cứu thị trường một cách chuyên nghiệp và khoa học, cho đến việc thu xếp vốn, triển khai đầu tư, lựa chọn công nghệ và lựa chọn đơn vị quản lý đều phải được kiểm tra nghiêm ngặt. Sau đó cần có cơ quan đánh giá lại để xem ý tưởng đầu tư có hiệu quả không, có cần phải đình chỉ và bán cho tư nhân để giải quyết nhanh tổn thất về nguồn lực. Như vậy mới tránh được những thất thoát lớn kéo dài. Ngay cả thanh tra, giám sát, hình sự … đều là trước sự việc đã rồi, tiền đã mất.

Thứ tư, nên tập trung toàn bộ nguồn lực đầu tư công của Chính phủ, dù rất hạn hẹp, vào những dự án theo hướng công nghệ cao, công trình xanh, hệ điều hành thông minh, sử dụng vật liệu mới ít tiêu tốn năng lượng. Singapore là ví dụ điển hình các công trình đầu tư công từ bệnh viện, trường học, cơ sở hạ tầng, nhà công vụ: Nếu đã là Chính phủ đầu tư thì sẽ số 1 về công nghệ, vật liệu mới, quản trị điều hành. Đó là nơi để các nhà khoa học điều hành bằng trí tuệ nhân tạo phát triển, có đất dụng võ. Làm sao có một thị trường start up, đổi mới sáng tạo mà quỹ đầu tư công của Chính phủ không đi tiên phong? Tôi thấy chúng ta đang lãng phí tiềm lực cho thúc đẩy nhanh đổi mới sáng tạo.

Xin cảm ơn ông!