Trong một cuộc họp mới đây của ngành NH tại TPHCM, đã có nhiều đại diện NH cho rằng các DN không nên quá vội vàng với suy nghĩ các DN có nợ xấu bán cho VAMC sẽ có thể vay vốn mới từ các NH và xem đây là khả năng hóa giải bế tắc cho DN, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, khai thông đầu ra cho tín dụng NH... Điều này vừa có thể là ngộ nhận vừa là điều không thể khẳng định. Bởi vì, nếu NH đã bán tất cả các khoản nợ xấu của khách hàng và tiếp tục cho vay đối với khách hàng này thì khoản cho vay mới lại trở thành nợ xấu.

Ở một góc nhìn khác, một số chuyên gia và đại diện các NH cho rằng có một số lo ngại với phần xử lý nợ xấu khi mà VAMC không phải là một Cty có quá nhiều tiền (vốn điều lệ là 500 tỉ đồng), trong khi đó, con số thật về nợ xấu của hệ thống ngành NH VN vẫn luôn là một ẩn số. Nếu tính theo chuẩn quốc tế, nợ xấu trung bình của hệ thống NH Việt Nam có thể sẽ phải lên tới 15-20%. Vì vậy, bản thân giám đốc một NHTMCP ở TPHCM cũng thừa nhận vấn đề này và cho rằng với tiềm lực tài chính của VAMC liệu có đủ làm “vừa lòng” thị trường.

Ngoài ra, một trong những điều kiện mua nợ mà VAMC đưa ra trong dự thảo Thông tư quy định về việc mua, bán, xử lý nợ xấu của VAMC là khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản. Trong đó, không dưới 65% tổng giá trị tài sản bảo đảm là bất động sản, bao gồm cả BĐS hình thành trong tương lai. Đồng thời, VAMC chỉ mua những khoản nợ từ 1 tỉ đồng trở lên với cá nhân, từ 3 tỉ đồng trở lên với tổ chức.

Theo nhiều đại diện NH, điều kiện về tài sản đảm bảo trong các văn bản pháp lý về VAMC quá chặt chẽ. Với đà chặt như vậy, rất khó để các TCTD bán nợ cho VAMC. Bởi vì, có không ít DN đầu tư vào BĐS nhưng lại đầu tư vào khá nhiều tài sản như nhà xưởng, máy móc, dây chuyền thiết bị... Do đó, với quy định 65% tài sản đảm bảo là BĐS thì rất khó xử lý được nợ xấu. Ngòai ra, dự thảo quy định khoản nợ phải có 65% tài sản đảm bảo bằng BĐS, nhưng không nêu rõ giá trị tài sản đảm bảo được tính trên cơ sở nào, trên cơ sở định giá của NH khi cho vay, hay theo định giá hiện tại của VAMC?

Về bản chất, VAMC không thay đổi được bản chất của mối quan hệ NH - DN, tức bên cho vay và bên đi vay, mà chỉ giải quyết về mặt sổ sách, xử lý kỹ thuật để giảm nợ xấu trong một thời gian cho các NH. Do đó, VAMC không chịu các rủi ro liên quan đến sở hữu nợ xấu do không thực sự bỏ tiền ra mua, mặt khác lại không có động lực đủ mạnh để xử lý nợ. Do đó, kiểu thiết kế tài chính này khó mang lại thành công nếu muốn xử lý nợ xấu thực sự. Một điều băn khoăn khác là khoản nợ xấu có thể bị trì hoãn tới 5 năm mới được xử lý thật sự. Thực vậy, vì các NH nắm trái phiếu phải trích lập tối thiểu 20% giá trị, nên thời gian trích lập tối đa là 5 năm. Nếu đến hạn mà các khoản nợ này không thu hồi được và NH cũng chưa trích lập đủ dự phòng thì liệu có quá trễ để xử lý nợ hay không.

Về mặt pháp lý thì các quy định trong nhiều văn bản pháp lý hiện hành cũng chưa thể hỗ trợ hoàn toàn cho hoạt động của VAMC. Vì thế, hoạt động của VAMC sắp tới đây sẽ là một con đường chông gai và nếu không giải quyết tận gốc vấn đề thay vì tính chất xử lý chỉ nhắm vào phần ngọn.