Đây là lần đầu tiên toàn bộ cơ sở của "quyền lịch sử" (chẳng hạn đường 9 đoạn) bị bác bỏ bởi một tòa án quốc tế, theo đúng luật pháp quốc tế. Phán quyết không chỉ có ý nghĩa quan trọng với các quốc gia tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, mà còn có ảnh hưởng tới mối quan hệ của Ấn Độ với Nhật Bản, Mỹ, ASEAN và trật tự thế giới.

Phán quyết được đưa ra ngay sau khi Bắc Kinh, viện lý do thủ tục pháp lý, ngăn cản thành công Ấn Độ gia nhập Nhóm cung cấp hạt nhân (NSG). Phán quyết được xem như "bản cáo trạng kết tội" Trung Quốc coi thường Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) và các nghị quyết của Hội đồng Bảo an chống chủ nghĩa khủng bố mà Bắc Kinh đã ký hết và ủng hộ.

Ấn Độ phản ứng nhanh chóng và thận trọng

Phản ứng chính thức của chính phủ Ấn Độ khá nhanh chóng và thận trọng. Bộ Ngoại giao Ấn Độ ra tuyên bố cùng ngày với phán quyết, kêu gọi tất cả các bên thể hiện "sự tôn trọng tối đa" UNCLOS. Tuyên bố nhấn mạnh rằng, "Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải và hàng không, thương mại không bị trở ngại, dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, như đã quy định trong UNCLOS".

Nhấn mạnh lợi ích quốc gia cụ thể của Ấn Độ trong vấn đề này, tuyên bố nêu rõ: "Các quốc gia nên giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hoà bình, không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực, kiềm chế trong những hành động có thể làm phức tạp hoặc leo thang căng thẳng, ảnh hưởng đến hoà bình và ổn định".

Yêu cầu "tôn trọng tối đa", Ấn Độ nhấn mạnh lợi ích thiết yếu của nước này trong việc duy trì "tự do hàng hải, hàng không theo UNCLOS, và phản đối các hành động "làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp" - tất cả ngụ ý chỉ trích mạnh mẽ ý định của Bắc Kinh phủ nhận phán quyết của Toà và vẫn hành xử như trước.

Đúng như dự đoán, Trung Quốc kịch liệt lên án phán quyết, gọi đây là phán quyết vô hiệu, và đặt câu hỏi về tính hợp pháp của Toà. Phản ứng của Trung Quốc tương phản mạnh với sự chấp nhận nhẹ nhàng của Ấn Độ với một phán quyết trọng tài tương tự giữa nước này với Bangladesh 2 năm trước, ngay cả khi phán quyết đứng về phía nước láng giềng nhỏ hơn này.

Tuy nhiên, không phải Ấn Độ là nước nhắc nhở Trung Quốc và thế giới về việc chấp nhận phán quyết với Bangladesh, mà trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách Đông Á Abraham Denmark đã nói đến điều này. Ngay trước ngày ra phán quyết, ông Denmark kêu gọi Trung Quốc theo gương Ấn Độ giải quyết tranh chấp biển với Bangladesh bằng cách chấp nhận phán quyết của tòa trọng tài. Tuy nhiên, một Trung Quốc đang sôi sục giận dữ và lên án kịch liệt lời khuyên noi gương Ấn Độ đã tuyên bố rằng "không thể so sánh" hai trường hợp này.

Đồng thời, Trung Quốc tuyệt vọng tự nhận có 60 nước trên thế giới ủng hộ lập trường về Biển Đông của mình, kể cả Ấn Độ. Đại biện lâm thời Trung Quốc tại Ấn Độ - Liu Jinsong - khăng khăng rằng, lập trường của Ấn Độ đối với vấn đề Biển Đông cũng "khá giống" với lập trường của Trung Quốc, vì Ấn Độ đã ký một bản tuyên bố "lập trường chung" về vấn đề này vào tháng 4.2016 ở Moskva.

Thông cáo chung ba bên Nga - Ấn Độ - Trung Quốc của 3 ngoại trưởng giống như ngôn từ được sử dụng trong tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: Thông cáo kêu gọi tất cả các tranh chấp ở Biển Đông "cần được giải quyết thông qua đàm phán và thỏa thuận giữa các bên liên quan. Đối với vấn đề này, các ngoại trưởng kêu gọi tôn trọng đầy đủ tất cả các điều khoản của UNCLOS, cũng như Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Hướng dẫn thực thi DOC".

Tuy nhiên, trong khi các quan chức Trung Quốc cố tình nhấn mạnh câu đầu tiên, thì giới chức Ấn Độ và báo chí lại chú trọng từ câu thứ hai trở đi, trong đó giới hạn ngay câu đầu. Rõ ràng, khi phải đối mặt với thách thức của việc cân bằng lợi ích giữa lục địa ba bên Nga - Ấn - Trung và hàng hải ba bên Mỹ - Nhật - Ấn, một thông cáo chung "hài lòng tất cả" là một hành động ngoại giao khôn khéo của New Delhi. Mặc dù Trung Quốc tự nhận có sự ủng hộ đáng kể trên toàn thế giới, nhưng thực tế chỉ có 10 nước, hầu hết là những nước không có biển, nghèo, tham nhũng, và phụ thuộc vào tiền của Bắc Kinh, công khai ủng hộ, nói rằng Trung Quốc "tuân thủ luật pháp quốc tế bằng việc từ chối phán quyết của Tòa".

Đổ thêm lửa vào sự giận dữ của Bắc Kinh, tuyên bố chung của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ và Nhật Bản sau Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Ấn - Nhật 2 ngày sau đó, 14.7, một lần nữa kêu gọi các bên "tôn trọng đầy đủ UNCLOS" và bày tỏ mối quan ngại của hai nước về những diễn biến gần đây (như Trung Quốc cho máy bay hạ cánh trên đảo nhân tạo, phản bác phán quyết của Tòa, đe dọa áp đặt vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông).

 Ngôn từ gần giống như tuyên bố chung riêng biệt của Bộ Ngoại giao Ấn Độ và Nhật Bản hôm 12.7. Đây là lần thứ hai một tuyên bố chung Ấn - Nhật nhắc đến tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, và chú trọng mạnh vào sự sắp xếp địa chính trị đang gia tăng ở Châu Á.

Tháng 12.2015, tuyên bố chung của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cũng kêu gọi tất cả các bên "tránh những hành động đơn phương" ở Biển Đông, "có thể dẫn đến căng thẳng trong khu vực". Tokyo và New Delhi cũng nhất trí tăng cường hợp tác quân sự toàn diện bằng việc thiết lập Đối thoại Chiến lược Hàng hải và tiến hành cuộc tập trận chung ba bên Ấn - Mỹ - Nhật mang tên Malabar, được tổ chức hàng năm.

Sự cạnh tranh địa chính trị Trung - Ấn

Sự bất hòa giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở Biển Đông càng làm mối quan hệ song phương trở nên căng thẳng và áp lực, vốn vẫn còn bị ám ảnh bởi cuộc chiến tranh biên giới năm 1962 và tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết ở Himalaya. Với nền kinh tế đang phát triển và tầm nhìn địa chính trị mở rộng, cả hai người khổng lồ Châu Á hiện đang cạnh tranh sự hiện diện và ảnh hưởng, đặc biệt là khi họ tranh giành các nguồn tài nguyên năng lượng.

Kể từ năm 2008, Trung Quốc đã tiến hành hơn 2 chục cuộc thám hiểm hải quân ở Ấn Độ Dương, bề ngoài là chống cướp biển, nhưng thực chất là nhằm khẳng định sức mạnh trong khu vực. Bất chấp tranh chấp lãnh thổ, vai trò của Trung Quốc như một nước cung cấp vũ khí lớn nhất cho láng giềng Ấn Độ, các cuộc tuần tra của tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc ở Ấn Độ Dương (mà New Delhi coi là sân sau chiến lược), Ấn Độ dễ hiểu là có lợi thế trong những khu vực ảnh hưởng chồng lấn với Trung Quốc.

New Delhi một mặt hướng tới các nước láng giềng, mặt khác cũng hướng tới các nước chịu sự bành trướng ngày càng tăng của Trung Quốc, như Việt Nam, Philippines và Nhật Bản. Ấn Độ từ lâu coi Trung Quốc là kẻ bành trướng.

Giống như nhà phân tích chiến lược Brahma Chellaney lưu ý, "Trung Quốc không chỉ nhằm mục tiêu kiểm soát Biển Đông, mà còn không ngừng thách thức hiện trạng lãnh thổ ở Hoa Đông và Himalaya". Tuy nhiên, thay vì tung ra một cuộc xâm lược kiểu lỗi thời - một cách tiếp cận có thể gây đối đầu trực tiếp với Mỹ - thì Trung Quốc lại tạo nên những sự đã rồi bằng việc bắt nạt và hối lộ đối thủ".

Bởi Ấn Độ có 55% giá trị thương mại đi qua Biển Đông, nên Hải quân nước này đặt muộn ưu tiên về an ninh năng lượng và bảo vệ đường biển. Kể từ năm 2007, Trung Quốc đã phản đối dự án khai thác dầu khí chung Việt Nam-Ấn Độ ở Biển Đông, và đã có những báo cáo về việc tàu chiến Trung Quốc đối đầu tàu hải quân Ấn Độ ở vùng biển này.

Phớt lờ cảnh báo của Trung Quốc, Ấn Độ công khai ủng hộ Việt Nam và Philippines, đặc biệt trong tranh chấp với Bắc Kinh, và tiếp tục hợp tác với Việt Nam thăm dò dầu khí ở Biển Đông. Trong các tuyên bố song phương với Manila, New Delhi công nhận vùng biển của Philippines và bác bỏ yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Như vậy, Ấn Độ cũng đang tạo ra ảnh hưởng, giống như Trung Quốc.

Là một phần của chính sách "hướng Đông", trùng hợp với chính sách "tái cân bằng" của Mỹ và "đóng góp chủ động cho hoà bình" của Nhật Bản, Ấn Độ đã tăng cường phối hợp cả về quân sự lẫn ngoại giao với các nước Đông Á và Đông Nam Á. New Delhi hiện đang đàm phán hợp đồng bán tên lửa hành trình BrahMos cho Việt Nam, tàu hộ tống và tàu tuần tra cho Philippines, trong khi củng cố quan hệ quân sự và liên kết kinh tế thương mại với Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Singapore.

Vào thời điểm lập trường của ASEAN bị chia rẽ, Ấn Độ đặt mình vào vị trí trung tâm của các mối quan hệ trong khu vực với Mông Cổ, Việt Nam, Philippines, Australia, Indonesia và Thái Lan như 1 phần của cấu trúc an ninh để đối trọng với một Trung Quốc đang trỗi dậy và củng cố an toàn, an ninh toàn cầu.

Trong các tuyên bố chung cấp cao, cả Mỹ và Ấn Độ đã nhiều lần tuyên bố ủng hộ tự do hàng hải và hàng không, cho thấy chính phủ của ông Modi không ngần ngại sự sắp xếp một cách rõ ràng của Mỹ và mục tiêu chiến lược của Ấn Độ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương để đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc.

Về phần mình, Trung Quốc ngày càng khó chịu với viễn cảnh Ấn Độ có vai trò ngày càng lớn ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trung Quốc phản đối các cuộc tập trận hải quân chung của Ấn Độ với Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam và Singapore ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

Bắc Kinh tuyên bố không dung thứ cho một sức mạnh hải quân khác hoạt động ở Biển Đông mà giới chức nước này mô tả là lợi ích cốt lõi đối với chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, và do đó, gắn bó chặt chẽ với tính hợp pháp và sống còn của chính phủ cộng sản. Việc kiểm soát Biển Đông cũng cực kỳ quan trọng đối với sự thành công của chiến lược "con đường tơ lụa trên biển" của ông Tập Cận Bình.

Tranh cãi về cái được, mất và các lựa chọn

Các nhà hoạch định chính sách và các nhà bình luận Ấn Độ thường cáo buộc tiêu chuẩn kép của Trung Quốc. Họ nhấn mạnh rằng, UNCLOS không phải là một hiệp ước bất bình đẳng mà các cường quốc bên ngoài áp đặt lên Trung Quốc. Trong nhiều năm, Trung Quốc tham gia một cách bình đẳng để đàm phàn UNCLOS và đồng ý với thủ tục giải quyết tranh chấp khi đã trở thành thành viên của công ước. Hơn nữa, Trung Quốc đã tận dụng đầy đủ các quyền hàng hải và quyền tự do theo UNCLOS ở những vùng biển và đại dương như Ấn Độ Dương và Bắc Cực, nhưng lại phủ nhận những quyền tương tự đối với các nước ở Biển Đông và Hoa Đông.

Chiến thuật mà Trung Quốc sử dụng để mở rộng biên giới, đất liền ở Himalaya cũng giống như chiến thuật mà họ sử dụng ở Biển Đông để mở rộng ranh giới trên biển. Quân đội Trung Quốc thường tuần tra biên giới ở các làng mạc, các đội kỹ sư thi công đường sá được cử đến biên giới Ấn Độ, Tây Tạng để làm thay đổi thực trạng trên thực địa, lực lượng dân quân biển, ngư dân, tuần duyên cũng được phái đi để mở rộng biên giới trên biển của Trung Quốc tại Biển Đông.

Bắc Kinh cũng thường xuyên có những thủ đoạn gian xảo bằng lời nói. Mặc dù từ quan điểm pháp lý, việc sử dụng thuật ngữ "Biển Hoa Nam - South China Sea" không đủ để công nhận quyền lịch sử của Trung Quốc, nhưng các đô đốc và tướng lĩnh Trung Quốc tuyên bố thẳng thừng rằng Biển Hoa Nam, giống như tên gọi của nó, là biển của Trung Quốc (chuẩn đô đốc Yuan Yubai, 9.2015), nhưng Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ (Đại úy Zhao Yi, 9.2015; Tướng Zhao Nanqi, 1993).

Mặc dù Trung Quốc cho rằng, đến 80% diện tích biển Đông là vùng nước lịch sử (và bây giờ đã nâng tuyên bố này thành lợi ích cốt lõi, na ná giống tuyên bố chủ quyền đối với Đài Loan và Tây Tạng), Trung Quốc ngày càng đòi sử dụng Biển Đông độc quyền giống như Mexico tuyên bố chủ quyền với vùng vịnh Mexico, Iran với vịnh Ba Tư, hoặc Ấn Độ với Ấn Độ Dương.

Trong bối cảnh đó, Ấn Độ không thể hy vọng vào phán quyết tốt hơn của Tòa trọng tài. Phán quyết là một bước đi đáng mừng đối với những lợi ích chiến lược và kinh tế của Ấn Độ, đặc biệt là khai thác dầu khí ngoài khơi Việt Nam, vì tòa tuyên bố Biển Đông là vùng biển quốc tế. Về mặt chiến lược, phán quyết đem đến một cơ sở pháp lý và ngoại giao cho việc Ấn Độ gia tăng hoạt động hải quân (trong đó có các chiến dịch thực thi tự do hàng hải và tập trận chung với các nước Đông Nam Á khác ở Biển Đông).

Một chiến thắng rõ ràng cho Philippines đồng thời cũng là lợi thế cho các nước khác như Malaysia, Indonesia, Việt Nam và Brunei nếu họ lựa chọn thực hiện vụ kiện trọng tài như Philippines. Các nhà chiến lược Ấn Độ tin rằng, nỗ lực chia rẽ ASEAN của Trung Quốc sẽ đưa đến kết quả là Trung Quốc đối đầu với phần còn lại của khu vực.

Phán quyết sẽ tạo động cơ lớn hơn để Ấn Độ cân bằng sức mạnh và đối trọng với Trung Quốc ở Ấn Độ - Thái Bình Dương. Phán quyết có thể còn có lợi cho Ấn Độ theo nhiều cách khác. Việc Trung Quốc coi thường luật pháp quốc tế khiến danh tiếng đất nước này bị ảnh hưởng. Trái lại, việc Ấn Độ chấp nhận phán quyết của tòa trong vụ kiện với Bangladesh khiến vị thế của nước này được nâng cao. Quan trọng hơn, một số nhà phân tích chiến lược của Ấn Độ tin rằng phán quyết của Tòa trọng tài bác bỏ đường chín đoạn, cũng có thể làm suy yếu tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Arunachal Pradesh.

Phán quyết của tòa cũng kết luận rằng nếu Trung Quốc có quyền lịch sử với nguồn tài nguyên ở Biển Đông thì các quyền đó cũng bị bác bỏ vì chúng không phù hợp với vùng đặc quyền kinh tế như quy định của UNCLOS. Nếu điều đó được áp dụng tương tự trong logic của tranh chấp biên giới Trung - Ấn thì phán quyết của tòa trọng tài dường như cũng đứng về phía Ấn Độ.

Đối mặt với một Trung Quốc hung hăng, các cường quốc biển lớn ở Châu Á như Ấn Độ, Australia sẽ hợp tác một cách đồng bộ hơn với Mỹ. Họ sẽ nhận được sự ủng hộ của các nước như Hàn Quốc, Việt Nam, Malaysia và Indonesia. Họ sẽ hợp tác chặt chẽ với nhau để thúc đẩy sự bảo vệ và trật tự dựa trên luật pháp. Theo thời gian, các mối quan hệ song phương và ba bên như Nhật -Việt- Phi; Mỹ - Nhật - Ấn; Úc - Indo - Ấn; Ấn - Nhật - Việt và các nỗ lực đa phương không chính thức để kiềm chế Trung Quốc có thể lập thành liên minh hàng hải Ấn Độ - Thái Bình Dương, (hay còn có thể gọi là NATO Châu Á).

Nếu con rồng Trung Hoa hung hăng ở các vùng đất và vùng biển xung quanh Ấn Độ, một Ấn Độ yếu hơn sẽ dựa vào nước Mỹ hùng mạnh để trở thành liên minh vững chắc chống lại Trung Quốc.

 

Cập nhật: Thế giới 24H: Báo chí quốc tế quan tâm vụ tin tặc tấn công sân bay Việt